Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật. 2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. 3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây: a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại. Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Theo khoản 1 Điều 601, nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
Khoản 2 Điều 601 xác định chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khoản 3 quy định chủ sở hữu, người chiếm hữữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp luật có quy định khác. Đây là điểm đặc thù so với nguyên tắc chung tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, theo đó trách nhiệm bồi thường phát sinh khi có hành vi xâm phạm, có thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả, không nhất thiết đòi hỏi yếu tố lỗi đối với nguồn nguy hiểm cao độ.
Ví dụ thực tiễn: xe ô tô đang lưu thông bất ngờ mất phanh gây tai nạn cho người đi đường. Chủ xe phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tài sản cho nạn nhân theo Điều 601, kể cả khi chủ xe không có lỗi trong việc bảo dưỡng xe. Chỉ khi chứng minh được tai nạn xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của nạn nhân (ví dụ nạn nhân lao vào xe để tự tử) hoặc do sự kiện bất khả kháng (như động đất, lũ quét bất ngờ) thì chủ xe mới được miễn trách nhiệm.
So sánh với Điều 602 Bộ luật Dân sự 2015 về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, trách nhiệm bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có phạm vi áp dụng rộng hơn, không giới hạn ở hành vi gây ô nhiễm mà bao trùm mọi thiệt hại phát sinh từ hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ. Việc quy định trách nhiệm bồi thường không cần yếu tố lỗi tại Điều 601 thể hiện chính sách bảo vệ người bị thiệt hại, buộc chủ thể quản lý nguồn nguy hiểm cao độ phải nâng cao trách nhiệm phòng ngừa rủi ro.
Nguồn nguy hiểm cao độ là những đối tượng vật chất nhất định mà trong quá trình vận hành, sử dụng, bản thân chúng luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho con người và tài sản, ngay cả khi chủ thể quản lý đã tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn. Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 không đưa ra định nghĩa khái quát mà liệt kê các trường hợp cụ thể, bao gồm: phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Đặc trưng pháp lý cơ bản của nguồn nguy hiểm cao độ là tính nguy hiểm tiềm ẩn mang tính khách quan, vượt ra ngoài tầm kiểm soát tuyệt đối của con người. Chính vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được xác lập theo cơ chế trách nhiệm không cần yếu tố lỗi. Khoản 3 Điều 601 quy định chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, do sự kiện bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết. Điều này khác biệt căn bản so với nguyên tắc chung tại Điều 584, theo đó trách nhiệm bồi thường chỉ phát sinh khi có hành vi trái pháp luật và có lỗi.
Ví dụ thực tiễn: xe ô tô đang lưu thông bất ngờ nổ lốp gây tai nạn, chủ xe không có lỗi trong việc bảo dưỡng nhưng vẫn phải bồi thường; hoặc trạm biến áp gặp sự cố kỹ thuật phóng điện gây cháy nhà dân, đơn vị quản lý vận hành phải chịu trách nhiệm bồi thường dù không vi phạm quy trình vận hành. Việc xác định đúng đối tượng là nguồn nguy hiểm cao độ có ý nghĩa quyết định trong việc áp dụng cơ chế trách nhiệm nghiêm ngặt, bảo vệ tối đa quyền lợi của người bị thiệt hại.
Theo khoản 1 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015, nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
Khoản 2 Điều 601 quy định chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Như vậy, trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu phát sinh ngay cả khi họ không trực tiếp gây ra thiệt hại, bởi lẽ nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho con người và môi trường xung quanh mà không hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi của con người.
Ví dụ thực tiễn: Xe ô tô đang lưu thông bất ngờ nổ lốp, mất lái gây tai nạn cho người đi đường. Chủ sở hữu xe phải bồi thường thiệt hại theo Điều 601, không cần chứng minh lỗi của mình. Trách nhiệm này chỉ được loại trừ khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết theo khoản 3 Điều 601, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được xác định theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015: người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. Đối với nguồn nguy hiểm cao độ, yếu tố lỗi không phải là điều kiện bắt buộc để xác định trách nhiệm của chủ sở hữu, thể hiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người bị thiệt hại trước những rủi ro đặc thù từ hoạt động có tính nguy hiểm cao.
Trong trường hợp thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra đồng thời làm ô nhiễm môi trường, chủ sở hữu còn phải bồi thường theo Điều 602 Bộ luật Dân sự 2015, kể cả khi họ không có lỗi, miễn là thiệt hại phát sinh từ hoạt động làm ô nhiễm môi trường của nguồn nguy hiểm đó.
Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thuộc loại trách nhiệm bồi thường không phụ thuộc vào lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ. Tuy nhiên, pháp luật vẫn ghi nhận các trường hợp chủ thể này được miễn trách nhiệm bồi thường.
Thứ nhất, thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Khoản 3 Điều 601 quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại”. Lỗi cố ý ở đây là trường hợp người bị thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình có thể gây thiệt hại cho chính mình nhưng vẫn mong muốn hoặc bỏ mặc cho thiệt hại xảy ra. Ví dụ: một người cố tình lao vào xe ô tô đang lưu thông đúng quy định để tự gây thương tích nhằm trục lợi bảo hiểm. Trường hợp này, chủ xe được miễn trách nhiệm bồi thường vì thiệt hại phát sinh hoàn toàn từ hành vi cố ý của nạn nhân, không có yếu tố lỗi từ phía chủ sở hữu, người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.
Thứ hai, thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng. Khoản 3 Điều 601 cũng quy định chủ thể quản lý nguồn nguy hiểm cao độ được miễn trách nhiệm khi thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng. Bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Ví dụ: xe ô tô đang lưu thông thì bị sét đánh trúng gây cháy nổ, làm hư hỏng tài sản của người đi đường; hoặc động đất làm sập cần cẩu đang thi công gây thiệt hại. Trong các tình huống này, chủ sở hữu, người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường vì thiệt hại nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ.
Thứ ba, thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người thứ ba. Mặc dù khoản 3 Điều 601 không quy định trực tiếp, nhưng căn cứ vào nguyên tắc chung tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, người gây thiệt hại không phải bồi thường khi thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của người thứ ba. Ví dụ: một người cố tình phá khóa, đẩy xe ô tô đang đỗ xuống dốc gây tai nạn cho người đi đường. Trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thuộc về người thứ ba có hành vi gây thiệt hại, không thuộc về chủ sở hữu xe nếu họ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quản lý, bảo quản nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định.
Như vậy, việc miễn trách nhiệm bồi thường trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại chỉ được áp dụng khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, do sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi của người thứ ba. Ngoài các trường hợp này, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi không có lỗi.
Trách nhiệm của người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ ở đây được hiểu là người đang nắm giữ, vận hành, khai thác nguồn nguy hiểm cao độ một cách hợp pháp hoặc thực tế, bao gồm người được chủ sở hữu giao tài sản thông qua hợp đồng thuê, mượn, quản lý, vận chuyển hoặc các giao dịch khác. Trách nhiệm bồi thường phát sinh ngay cả khi người chiếm hữu, sử dụng không có lỗi trong việc gây thiệt hại, bởi đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có tính chất đặc thù, chỉ được miễn trừ khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A cho Công ty B thuê xe ô tô tải kèm theo hợp đồng thuê có thời hạn. Trong thời gian thuê, lái xe của Công ty B điều khiển xe gây tai nạn làm hư hỏng tài sản của người đi đường. Theo khoản 2 Điều 601, Công ty B là bên đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nên phải chịu trách nhiệm bồi thường, trừ khi hợp đồng thuê có thỏa thuận khác về việc phân chia trách nhiệm. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, khoản 3 Điều 601 xác định người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường.
Quy định này phù hợp với nguyên tắc chung tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại được bồi thường kịp thời, toàn diện từ chủ thể đang trực tiếp kiểm soát nguồn nguy hiểm cao độ.
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng không khi đang vận hành được xác định là nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015. Theo khoản 3 Điều 601, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Lưu ý quan trọng khi áp dụng trách nhiệm bồi thường đối với phương tiện giao thông là xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm. Khoản 2 Điều 601 quy định chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ví dụ, chủ xe ô tô giao xe cho tài xế lái thuê gây tai nạn thì tài xế là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp phải chịu trách nhiệm bồi thường, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác về trách nhiệm.
Trường hợp phương tiện bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, khoản 4 Điều 601 quy định người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường. Ví dụ, chủ xe để xe không khóa, không rút chìa khóa dẫn đến kẻ gian lấy xe gây tai nạn thì chủ xe phải liên đới bồi thường cùng người chiếm hữu trái pháp luật.
Về căn cứ phát sinh trách nhiệm, Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đối với nguồn nguy hiểm cao độ, trách nhiệm bồi thường phát sinh ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi, đây là điểm khác biệt căn bản so với trách nhiệm bồi thường thông thường.
Thực tiễn xét xử cho thấy, khi xảy ra tai nạn giao thông, tòa án thường xem xét đồng thời lỗi của người bị thiệt hại để giảm mức bồi thường theo khoản 2 Điều 584 và khoản 4 Điều 585. Nếu người bị thiệt hại có lỗi một phần, mức bồi thường sẽ được giảm tương ứng với mức độ lỗi. Ví dụ, người đi bộ băng qua đường không đúng nơi quy định bị ô tô đâm thì người đi bộ phải chịu một phần trách nhiệm, mức bồi thường của chủ xe được giảm tương ứng.
Ngoài ra, cần phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại do phương tiện giao thông gây ra với trách nhiệm bồi thường do làm ô nhiễm môi trường quy định tại Điều 602 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường thì áp dụng Điều 602, theo đó chủ thể làm ô nhiễm môi trường phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp không có lỗi.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.