Điều 4. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. 2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng. Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác theo quy định của pháp luật. Đây là nguyên tắc nền tảng bảo đảm quyền tiếp cận công lý, thể hiện tính chủ động của chủ thể trong việc bảo vệ quyền lợi bằng con đường tố tụng.
Nội dung Điều 4 có mối liên hệ chặt chẽ với Điều 5 BLTTDS 2015 về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Theo đó, việc có khởi kiện hay không, phạm vi yêu cầu, việc rút đơn khởi kiện, thay đổi yêu cầu đều do đương sự tự quyết định. Đồng thời, Điều 186 BLTTDS 2015 cụ thể hóa quyền khởi kiện: cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền. Như vậy, Điều 4 là quy định mang tính nguyên tắc chung, còn Điều 186 là cơ sở pháp lý trực tiếp để thực hiện quyền khởi kiện.
Ví dụ thực tiễn: Ông A cho ông B vay 500 triệu đồng, đến hạn ông B không trả. Căn cứ Điều 4 và Điều 186 BLTTDS 2015, ông A có quyền khởi kiện ông B ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ông B cư trú để yêu cầu trả nợ. Trong quá trình giải quyết, ông A có thể thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện hoặc rút đơn theo Điều 5. Nếu ông A không khởi kiện, Tòa án không tự mình giải quyết tranh chấp, thể hiện nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự.
Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ giới hạn ở cá nhân mà còn mở rộng cho cơ quan, tổ chức. Trường hợp bảo vệ quyền lợi của người khác, chủ thể khởi kiện phải có căn cứ pháp luật quy định, như tổ chức đại diện tập thể lao động khởi kiện bảo vệ quyền lợi người lao động theo pháp luật lao động. Quy định này góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân được bảo vệ kịp thời, đúng pháp luật.
Theo quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây là phạm vi chủ thể rộng, không giới hạn ở cá nhân công dân Việt Nam mà còn bao hàm các pháp nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân và cả cơ quan nhà nước khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự với tư cách bình đẳng.
Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cụ thể hóa quyền này thông qua quyền khởi kiện: cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Điều kiện tiên quyết là chủ thể khởi kiện phải chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc đang có tranh chấp.
Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bổ sung nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự: cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định việc khởi kiện, không khởi kiện, thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hoặc thỏa thuận với nhau. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết khi có đơn khởi kiện của chủ thể có quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ví dụ thực tiễn: ông A cho ông B vay 500 triệu đồng có giấy biên nhận, đến hạn ông B không trả. Ông A có quyền khởi kiện ông B ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ông B cư trú để yêu cầu trả nợ gốc và lãi. Trường hợp ông A là người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự, người đại diện theo pháp luật của ông A có quyền thay mặt khởi kiện. Nếu ông A ủy quyền cho luật sư, luật sư thực hiện quyền khởi kiện theo phạm vi ủy quyền.
Như vậy, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi thuộc về mọi chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua người đại diện hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện và tự định đoạt của chính chủ thể đó.
Căn cứ Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản: khởi kiện vụ án dân sự và yêu cầu giải quyết việc dân sự. Sự phân định này bắt nguồn từ chính phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 BLTTDS 2015, theo đó Bộ luật quy định trình tự, thủ tục khởi kiện để giải quyết vụ án dân sự và trình tự, thủ tục yêu cầu để giải quyết việc dân sự.
Thứ nhất, khởi kiện vụ án dân sự. Đây là hình thức yêu cầu Tòa án giải quyết khi có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các bên. Theo Điều 186 BLTTDS 2015, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ví dụ: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế, ly hôn có tranh chấp về tài sản hoặc con cái. Đặc trưng của hình thức này là có nguyên đơn, bị đơn và có sự đối kháng về lợi ích giữa các bên đương sự.
Thứ hai, yêu cầu giải quyết việc dân sự. Hình thức này áp dụng khi không có tranh chấp giữa các bên mà chỉ có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc xác lập một sự kiện pháp lý, một quyền dân sự cụ thể. Ví dụ: yêu cầu tuyên bố một người mất tích, tuyên bố một người đã chết, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu xác định cha, mẹ cho con. Trong việc dân sự, người yêu cầu không đối kháng với bị đơn mà chỉ đề nghị Tòa án xác lập một tình trạng pháp lý làm cơ sở phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Việc lựa chọn hình thức yêu cầu nào thuộc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo Điều 5 BLTTDS 2015. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong phạm vi yêu cầu của mình. Tuy nhiên, việc xác định đúng hình thức có ý nghĩa quan trọng về thủ tục, bởi trình tự giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự có những điểm khác biệt về thành phần tham gia, thời hạn giải quyết và tính chất phán quyết của Tòa án.
Quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được ghi nhận tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.
Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rõ: cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền khởi kiện này gắn liền với nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự tại Điều 5, theo đó đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, phạm vi khởi kiện, rút đơn khởi kiện, thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện hoặc thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ví dụ thực tiễn: Ông A cho ông B vay 500 triệu đồng, có giấy biên nhận nợ, thời hạn trả đã hết nhưng ông B không trả. Ông A có quyền khởi kiện ông B ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ông B cư trú để yêu cầu trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận. Trong quá trình giải quyết, ông A có thể thay đổi yêu cầu khởi kiện, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu, hoặc thỏa thuận với ông B về phương thức trả nợ.
Quyền khởi kiện không phải là tuyệt đối mà phải tuân thủ các điều kiện về chủ thể, thẩm quyền, thời hiệu khởi kiện và hình thức đơn khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết khi người khởi kiện có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 186 và các điều luật liên quan.
Quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự là một bộ phận cấu thành của quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được ghi nhận tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khác với khởi kiện vụ án dân sự nhằm giải quyết tranh chấp, yêu cầu giải quyết việc dân sự hướng tới việc Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, xác lập một tình trạng pháp lý mà giữa các bên không có tranh chấp.
Theo khoản 1 Điều 4, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khoản 2 Điều 4 quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trường hợp này Tòa án áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng. Quy định này bảo đảm quyền tiếp cận công lý của đương sự trong mọi tình huống, kể cả khi pháp luật chưa dự liệu đầy đủ.
Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Trong việc dân sự, người yêu cầu có quyền quyết định việc yêu cầu Tòa án giải quyết hay rút yêu cầu; Tòa án chỉ thụ lý giải quyết khi có đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu đó. Nguyên tắc tự định đoạt thể hiện rõ nét ở chỗ đương sự không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ chứng minh tranh chấp như trong vụ án, mà chỉ cần cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ của yêu cầu.
Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án, tuy nhiên về bản chất pháp lý, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo cơ chế tương tự: đương sự nộp đơn yêu cầu đến Tòa án có thẩm quyền, Tòa án xem xét điều kiện thụ lý và ra quyết định giải quyết. Ví dụ thực tiễn: cá nhân yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu tuyên bố một người đã chết; yêu cầu xác định cha, mẹ cho con. Trong các trường hợp này, Tòa án không giải quyết tranh chấp mà chỉ xác lập tình trạng pháp lý làm cơ sở phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Như vậy, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự là công cụ pháp lý quan trọng để cá nhân, cơ quan, tổ chức chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi không có tranh chấp, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý và sự ổn định của các quan hệ dân sự.
Quyền khởi kiện theo Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 không phải là quyền tuyệt đối, không bị giới hạn. Để Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, người khởi kiện phải đáp ứng các điều kiện luật định về chủ thể, thẩm quyền, thời hiệu và hình thức đơn khởi kiện.
Thứ nhất, về chủ thể khởi kiện. Khoản 2 Điều 4 quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ có quyền khởi kiện khi "quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm" hoặc trong trường hợp pháp luật quy định quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Điều 186 cụ thể hóa: người khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc thuộc trường hợp được pháp luật trao quyền. Ví dụ, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình khởi kiện yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình là trường hợp khởi kiện vì lợi ích công cộng, không phải vì quyền lợi riêng của cơ quan đó.
Thứ hai, về phạm vi tự định đoạt. Điều 5 ghi nhận đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, nhưng phạm vi khởi kiện phải nằm trong giới hạn yêu cầu của đương sự. Tòa án không tự mở rộng phạm vi giải quyết ngoài yêu cầu khởi kiện. Người khởi kiện phải xác định rõ quan hệ pháp luật tranh chấp và yêu cầu cụ thể. Ví dụ, trong tranh chấp hợp đồng vay, nguyên đơn chỉ yêu cầu trả nợ gốc thì Tòa án không tự ý xem xét yêu cầu trả lãi nếu đương sự không bổ sung.
Thứ ba, về thời hiệu khởi kiện. Điều 186 đặt ra yêu cầu người khởi kiện phải nộp đơn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành. Hết thời hiệu mà không có lý do chính đáng, Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Ví dụ, tranh chấp hợp đồng dân sự có thời hiệu 03 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ tư, về hình thức và thẩm quyền. Đơn khởi kiện phải đáp ứng điều kiện về hình thức theo Điều 189 và được nộp đúng Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Chương III của Bộ luật. Việc nộp đơn sai thẩm quyền dẫn đến chuyển đơn hoặc trả lại đơn, kéo dài thời gian bảo vệ quyền lợi.
Như vậy, quyền khởi kiện chỉ được thực hiện hiệu quả khi người khởi kiện đáp ứng đầy đủ điều kiện về chủ thể, phạm vi yêu cầu, thời hiệu, hình thức và thẩm quyền. Thiếu một trong các điều kiện này, Tòa án có căn cứ trả lại đơn khởi kiện theo Điều 192, đồng nghĩa quyền yêu cầu bảo vệ chưa được thực hiện trên thực tế.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.