Điều 37 BLTTDS 2015: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 37 BLTTDS 2015: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 37 BLTTDS 2015
  2. Các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh
  3. Tranh chấp có yếu tố nước ngoài
  4. Tranh chấp liên quan đến tài sản trên 500 triệu đồng
  5. Phân biệt thẩm quyền giữa cấp huyện và cấp tỉnh
  6. Lưu ý khi xác định Tòa án có thẩm quyền

Điều 37. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây: a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này; b) Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này; c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này. 2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 37 BLTTDS 2015

Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo ba nhóm chính.

Thứ nhất, thẩm quyền theo loại việc. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện. Quy định này tạo cơ chế linh hoạt để Tòa án cấp tỉnh tiếp nhận những vụ việc phức tạp, có tính chất quan trọng vượt quá khả năng giải quyết của cấp huyện.

Thứ hai, thẩm quyền đối với vụ việc có yếu tố nước ngoài. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Ví dụ, tranh chấp ly hôn giữa công dân Việt Nam cư trú tại Hà Nội với công dân Việt Nam đang sinh sống tại Cộng hòa Liên bang Đức thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, không phải Tòa án nhân dân cấp huyện.

Thứ ba, thẩm quyền đối với yêu cầu công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài. Đây là loại việc đặc thù chỉ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, không phân cấp cho Tòa án nhân dân cấp huyện.

Việc xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải đặt trong mối quan hệ với Điều 35 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Điều 39 về thẩm quyền theo lãnh thổ. Theo đó, khi vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án cấp tỉnh cụ thể được xác định theo nguyên tắc lãnh thổ quy định tại Điều 39. Trường hợp vụ việc có yếu tố nước ngoài nhưng đương sự là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam và tài sản tranh chấp nằm trong nước, thẩm quyền vẫn thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện theo Điều 35, trừ trường hợp có căn cứ lấy lên theo khoản 1 Điều 37.

2. Các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Quy định này được hiểu là cơ chế “lấy lên” để giải quyết, không phải là sự phân định thẩm quyền theo tính chất, mức độ phức tạp hay giá trị tranh chấp. Về nguyên tắc, các tranh chấp dân sự thông thường thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bao gồm tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thừa kế tài sản, quyền sử dụng đất và các tranh chấp dân sự khác mà pháp luật không có quy định khác.

Tuy nhiên, khi vụ việc có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều đương sự ở nhiều địa phương khác nhau, có yếu tố nhạy cảm về chính trị, xã hội hoặc việc giải quyết tại cấp huyện gặp khó khăn, vướng mắc thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Việc lấy lên phải tuân thủ quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bảo đảm vụ án được giải quyết đúng Tòa án có thẩm quyền về mặt lãnh thổ.

Ví dụ thực tiễn: tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nhiều hộ gia đình tại một huyện biên giới có dấu hiệu căng thẳng, tiềm ẩn nguy cơ mất an ninh trật tự. Tòa án nhân dân cấp huyện đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên giải quyết. Tòa án cấp tỉnh xét thấy cần thiết, ra quyết định lấy vụ án lên để giải quyết sơ thẩm, bảo đảm tính khách quan và hiệu quả.

Như vậy, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với tranh chấp dân sự thông thường mang tính chất bổ trợ, phát sinh trong trường hợp cụ thể theo cơ chế lấy lên, không phải là thẩm quyền đương nhiên theo loại việc.

3. Tranh chấp có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ các trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo khoản 3 Điều 37. Như vậy, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài là thẩm quyền mang tính ngoại lệ, chỉ phát sinh khi thuộc một trong các trường hợp luật định.

Cụ thể, khoản 3 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Đây là các trường hợp mà việc giải quyết vụ án đòi hỏi hoạt động tố tụng vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam, phát sinh nhu cầu ủy thác tư pháp quốc tế, do đó cần giao cho Tòa án cấp tỉnh để bảo đảm năng lực và điều kiện thực hiện.

Ví dụ thực tiễn: ông A là công dân Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ, khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất tại tỉnh B. Do đương sự đang cư trú ở nước ngoài, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có bất động sản theo điểm c khoản 1 Điều 39 về thẩm quyền theo lãnh thổ đối với tranh chấp bất động sản. Trường hợp khác, doanh nghiệp Việt Nam tranh chấp hợp đồng với đối tác tại Nhật Bản, cần ủy thác tư pháp thu thập chứng cứ tại Nhật Bản thì vụ án cũng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Ngược lại, nếu tranh chấp có yếu tố nước ngoài nhưng không thuộc các trường hợp nêu trên, ví dụ người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam tranh chấp hợp đồng lao động với doanh nghiệp trong nước, thì Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn có thẩm quyền giải quyết theo khoản 3 Điều 35. Việc xác định đúng cấp Tòa án có thẩm quyền có ý nghĩa quan trọng, tránh trường hợp Tòa án thụ lý sai thẩm quyền dẫn đến phải chuyển vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Tranh chấp liên quan đến tài sản trên 500 triệu đồng

Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 37. Đối chiếu với khoản 3 Điều 37, tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Như vậy, giá trị tài sản tranh chấp trên 500 triệu đồng không đương nhiên làm phát sinh thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Thẩm quyền theo giá ngạch chỉ được xác lập khi vụ án có yếu tố nước ngoài hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 37.

Ví dụ thực tiễn: Ông A khởi kiện bà B yêu cầu thanh toán khoản nợ 800 triệu đồng. Cả hai đều cư trú tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất tại huyện Đông Anh. Vụ án không có yếu tố nước ngoài, không cần ủy thác tư pháp. Theo khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy hoặc Tòa án nhân dân huyện Đông Anh có thẩm quyền giải quyết, không phụ thuộc giá trị tranh chấp vượt 500 triệu đồng.

Trường hợp khác: Ông C tranh chấp quyền sử dụng đất trị giá 1,2 tỷ đồng với bà D, trong đó bà D đang định cư tại Hoa Kỳ. Theo khoản 3 Điều 37, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh do có đương sự ở nước ngoài. Việc xác định thẩm quyền trong trường hợp này căn cứ vào yếu tố nước ngoài, không căn cứ vào giá trị tài sản.

Như vậy, cần phân biệt rõ: giá trị tài sản trên 500 triệu đồng chỉ là tình tiết định giá, không phải căn cứ phân định thẩm quyền giữa Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh trong tranh chấp dân sự thông thường. Việc xác định sai thẩm quyền dẫn đến hậu quả vụ án bị chuyển hoặc bản án bị hủy theo quy định tại Điều 37, Điều 38 về việc chuyển vụ án cho Tòa án khác và giải quyết tranh chấp thẩm quyền.

5. Phân biệt thẩm quyền giữa cấp huyện và cấp tỉnh

Việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh được xác lập trên nguyên tắc: cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thông thường, còn cấp tỉnh chỉ thụ lý sơ thẩm những vụ việc có tính chất phức tạp, có yếu tố nước ngoài hoặc thuộc trường hợp đặc biệt do luật định.

Theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm đối với hầu hết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Ngược lại, Điều 37 liệt kê các loại việc thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, bao gồm: tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài; tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; tranh chấp về kinh doanh, thương mại, lao động có tính chất phức tạp; yêu cầu hủy phán quyết trọng tài; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài; và các việc dân sự khác thuộc thẩm quyền theo quy định của luật.

Ví dụ thực tiễn: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai công ty trong nước, giá trị tranh chấp 500 triệu đồng, không có yếu tố nước ngoài thì thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện theo khoản 1 Điều 35. Nhưng nếu một bên đương sự là cá nhân đang định cư ở nước ngoài, vụ tranh chấp đó thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo điểm a khoản 1 Điều 37.

Về thẩm quyền theo lãnh thổ, Điều 39 quy định Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở có thẩm quyền giải quyết; các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú hoặc nơi có tài sản. Quy định này áp dụng chung cho cả hai cấp, không làm thay đổi sự phân định thẩm quyền theo cấp đã nêu.

Như vậy, ranh giới phân định cốt lõi nằm ở tính chất vụ việc và yếu tố nước ngoài, không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp. Việc xác định đúng cấp Tòa án có thẩm quyền ngay từ khi khởi kiện có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực của thủ tục tố tụng, tránh trường hợp Tòa án phải chuyển vụ việc hoặc bản án bị hủy do sai thẩm quyền.

6. Lưu ý khi xác định Tòa án có thẩm quyền

Khi xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, cần phân biệt rõ ba cấp độ thẩm quyền: thẩm quyền theo cấp Tòa án, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn. Việc xác định sai cấp Tòa án dẫn đến hậu quả Tòa án đã thụ lý phải chuyển vụ án cho Tòa án khác có thẩm quyền, gây kéo dài thời gian giải quyết.

Thứ nhất, về thẩm quyền theo cấp Tòa án, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 liệt kê các loại việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trong đó đáng chú ý là tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, và các vụ án do Tòa án nhân dân cấp huyện lấy lên để giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 35. Ngược lại, Điều 35 quy định Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm hầu hết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Do đó, nguyên tắc chung là tranh chấp thuộc thẩm quyền cấp huyện, trừ trường hợp Điều 37 quy định khác.

Thứ hai, về thẩm quyền theo lãnh thổ, Điều 39 xác định Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi bị đơn có trụ sở là Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án khác trong các trường hợp luật định, ví dụ tranh chấp về bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền.

Ví dụ thực tiễn: Công ty A có trụ sở tại Hà Nội ký hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty B có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi phát sinh tranh chấp, nếu không có thỏa thuận khác, nguyên đơn phải khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn có trụ sở theo điểm a khoản 1 Điều 39. Trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài, ví dụ một bên đương sự là cá nhân nước ngoài, thì thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo điểm a khoản 1 Điều 37, không phụ thuộc vào giá trị tranh chấp.

Lưu ý quan trọng: Khi vụ án vừa có yếu tố thuộc thẩm quyền cấp tỉnh vừa có yếu tố thuộc thẩm quyền cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết toàn bộ vụ án theo khoản 3 Điều 37. Người khởi kiện cần xác định đúng cấp Tòa án và Tòa án theo lãnh thổ ngay từ khi nộp đơn để tránh việc đơn khởi kiện bị trả lại hoặc vụ án bị chuyển đi, gây mất thời gian và chi phí tố tụng.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 37 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 35 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 39 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp