Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ 1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ. 2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. 3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ, gồm ba nội dung cốt lõi. Thứ nhất, khoản 1 xác định hành vi vi phạm nghĩa vụ là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự: bên có nghĩa vụ mà không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Thứ hai, khoản 2 quy định hậu quả pháp lý của vi phạm nghĩa vụ: trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ mà gây thiệt hại thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ. Thứ ba, khoản 3 quy định căn cứ miễn trách nhiệm: bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Về yếu tố lỗi, trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ phát sinh không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của bên vi phạm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Nguyên tắc này được củng cố bởi Điều 364 Bộ luật Dân sự 2015 về lỗi trong trách nhiệm dân sự: lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý; người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Như vậy, lỗi là căn cứ chung để xác định trách nhiệm, nhưng trong nhiều quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng, bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi, trừ khi thuộc trường hợp bất khả kháng.
Ví dụ thực tiễn: A ký hợp đồng bán 10 tấn gạo cho B, giao hàng ngày 30/6. Đến hạn, A không giao hàng. Hành vi không thực hiện nghĩa vụ giao hàng của A làm phát sinh trách nhiệm dân sự theo khoản 1 Điều 351. Nếu việc chậm giao khiến B phải mua gạo giá cao hơn từ nguồn khác, chịu thiệt hại 50 triệu đồng, A phải bồi thường khoản thiệt hại này theo khoản 2 Điều 351 và Điều 360. Nếu A chứng minh được việc không giao hàng là do lũ lụt làm kho hàng bị phá hủy hoàn toàn, không thể khắc phục, A được miễn trách nhiệm theo khoản 3 Điều 351, trừ khi hai bên có thỏa thuận A vẫn phải chịu trách nhiệm trong trường hợp bất khả kháng.
Vi phạm nghĩa vụ dân sự là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã được xác lập giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự. Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương, thực hiện công việc không có ủy quyền, chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được hưởng lợi ích về tài sản không có căn cứ pháp luật, gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật và các căn cứ khác theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Theo khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ được biểu hiện dưới hai dạng cơ bản: không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn và thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Khoản 2 Điều 351 quy định trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Về bản chất, vi phạm nghĩa vụ dân sự là sự xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên có quyền, làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015. Trách nhiệm này chỉ đặt ra khi có đủ các yếu tố: có hành vi vi phạm nghĩa vụ, có thiệt hại thực tế xảy ra và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại. Yếu tố lỗi được quy định tại Điều 364 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý; người vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự kể cả khi không có lỗi trong trường hợp pháp luật có quy định.
Ví dụ thực tiễn: bên bán cam kết giao hàng vào ngày 15 nhưng đến ngày 30 mới giao, làm bên mua bỏ lỡ cơ hội kinh doanh và phát sinh chi phí lưu kho. Hành vi giao hàng chậm là vi phạm nghĩa vụ về thời hạn thực hiện, bên bán phải bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh cho bên mua theo quy định tại Điều 351 và Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, vi phạm nghĩa vụ được phân thành hai loại cơ bản: không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn (chậm thực hiện) và thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Ngoài ra, thực tiễn áp dụng còn ghi nhận trường hợp bên có nghĩa vụ từ chối thực hiện nghĩa vụ, được xem là dạng vi phạm nghiêm trọng nhất.
Thứ nhất, chậm thực hiện nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ khi đến thời hạn đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Ví dụ, A vay B 500 triệu đồng, cam kết trả ngày 30/6/2024 nhưng đến ngày 30/9/2024 mới thanh toán. Khi đó A đã vi phạm nghĩa vụ do chậm thực hiện. Theo khoản 2 Điều 351, bên có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại phát sinh do việc chậm trễ gây ra.
Thứ hai, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ là trường hợp bên có nghĩa vụ có thực hiện nhưng không đúng, không đủ về số lượng, chất lượng, chủng loại hoặc không đúng địa điểm, phương thức đã cam kết. Ví dụ, B nhận gia công 1.000 áo sơ mi theo hợp đồng nhưng chỉ giao 800 chiếc, hoặc giao đủ số lượng nhưng chất lượng vải không đúng mẫu đã thỏa thuận. Hành vi này cấu thành vi phạm nghĩa vụ theo khoản 1 Điều 351.
Thứ ba, từ chối thực hiện nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ thể hiện rõ ý chí không thực hiện nghĩa vụ mặc dù có đủ điều kiện thực hiện. Trường hợp này bên bị vi phạm có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền buộc bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hoặc áp dụng chế tài theo thỏa thuận, theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm pháp lý phát sinh, Điều 360 quy định bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Đồng thời, theo Điều 364, việc xác định trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dựa trên yếu tố lỗi, bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định trách nhiệm không phụ thuộc vào lỗi.
Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ là một trong những biện pháp chế tài cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thì bên có quyền có thể yêu cầu bên vi phạm phải tiếp tục thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc việc thực hiện nghĩa vụ không còn khả thi trên thực tế.
Bản chất của trách nhiệm này là buộc bên vi phạm phải khôi phục lại trạng thái thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận, không cho phép bên vi phạm dùng việc bồi thường thiệt hại để thay thế nghĩa vụ chính khi bên có quyền vẫn có nhu cầu được thực hiện nghĩa vụ. Điều này xuất phát từ nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận tại khoản 2 Điều 3 và nguyên tắc tự chịu trách nhiệm tại khoản 5 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.
Ví dụ thực tiễn: A ký hợp đồng bán cho B một lô hàng hóa đặc thù theo đúng mẫu mã đã thỏa thuận. Đến hạn giao hàng, A không giao. B có quyền yêu cầu A tiếp tục giao đúng lô hàng đó, đồng thời vẫn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh do chậm giao hàng theo Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015. Việc A có lỗi hay không trong việc chậm giao không làm mất đi quyền yêu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của B, bởi lỗi chỉ là căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 364, không phải điều kiện tiên quyết của trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ.
Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ không áp dụng khi nghĩa vụ đã trở nên không thể thực hiện được do sự kiện bất khả kháng, do đối tượng của nghĩa vụ không còn, hoặc khi pháp luật có quy định khác. Trong trường hợp đó, bên có quyền chuyển sang yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc áp dụng biện pháp chế tài khác phù hợp.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những hậu quả pháp lý chủ yếu phát sinh khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ dân sự. Theo khoản 3 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền; trong đó, vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.” Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ chỉ phát sinh khi hội tụ đủ các yếu tố: có hành vi vi phạm nghĩa vụ; có thiệt hại thực tế xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại; và có lỗi của bên vi phạm, trừ trường hợp pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường không phụ thuộc vào yếu tố lỗi.
Về yếu tố lỗi, Điều 364 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý. Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.” Việc xác định lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ trách nhiệm, xem xét giảm mức bồi thường khi bên vi phạm có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của họ.
Ví dụ thực tiễn: A ký hợp đồng thuê B vận chuyển một lô hàng điện tử từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình vận chuyển, do B chủ quan, không chằng buộc hàng hóa cẩn thận, lô hàng bị đổ vỡ, hư hỏng toàn bộ. Hành vi của B là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng vận chuyển, có lỗi vô ý, gây thiệt hại thực tế về tài sản cho A. Theo Điều 351 và Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015, B phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho A, bao gồm giá trị lô hàng bị hư hỏng và các chi phí hợp lý khác phát sinh, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác về mức bồi thường hoặc pháp luật chuyên ngành có quy định giới hạn trách nhiệm.
1. Căn cứ pháp lý về miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng
Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Như vậy, sự kiện bất khả kháng là căn cứ miễn trách nhiệm dân sự đương nhiên theo luật định, không phụ thuộc vào ý chí của bên bị vi phạm.
2. Điều kiện áp dụng miễn trách nhiệm
Để được miễn trách nhiệm, bên vi phạm nghĩa vụ phải chứng minh đủ ba yếu tố: (i) có sự kiện khách quan xảy ra ngoài ý chí của mình; (ii) sự kiện đó không thể lường trước được tại thời điểm xác lập nghĩa vụ; và (iii) không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Việc viện dẫn bất khả kháng không đương nhiên làm phát sinh miễn trách nhiệm nếu bên vi phạm vẫn còn lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại, theo nguyên tắc xác định lỗi tại Điều 364 Bộ luật Dân sự 2015.
3. Phạm vi miễn trách nhiệm
Miễn trách nhiệm do bất khả kháng chỉ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc không thực hiện đúng nghĩa vụ theo Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015, không làm chấm dứt nghĩa vụ. Khi sự kiện bất khả kháng chấm dứt, bên có nghĩa vụ vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ trường hợp việc thực hiện không còn khả thi hoặc các bên có thỏa thuận khác.
4. Ví dụ thực tiễn
Doanh nghiệp vận tải ký hợp đồng giao hàng đúng hạn. Do bão lũ làm sập cầu, tuyến đường duy nhất bị chia cắt trong ba ngày, hàng giao chậm. Doanh nghiệp chứng minh được bão lũ là sự kiện bất khả kháng, đã chủ động theo dõi dự báo và không có phương án vận chuyển thay thế khả thi. Trường hợp này, doanh nghiệp được miễn trách nhiệm bồi thường do chậm giao hàng. Ngược lại, nếu doanh nghiệp biết trước cảnh báo bão nhưng vẫn không điều động phương tiện dự phòng, việc chậm giao có yếu tố lỗi, không được miễn trách nhiệm.
5. Lưu ý về thỏa thuận khác
Các bên có quyền thỏa thuận mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi miễn trách nhiệm do bất khả kháng, nhưng thỏa thuận loại trừ hoàn toàn quyền viện dẫn bất khả kháng của bên yếu thế có thể bị xem xét về tính vô hiệu do vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.