Điều 273. Thời hạn kháng cáo 1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án. 2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này. 3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015). Theo đó, thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Quy định này cần được đọc trong mối liên hệ với Điều 271 BLTTDS 2015 về người có quyền kháng cáo. Chỉ những chủ thể được liệt kê tại Điều 271 — bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vì lợi ích của người khác hoặc lợi ích công cộng — mới được thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nêu trên. Việc xác định đúng chủ thể có quyền kháng cáo là tiền đề để xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo.
Ví dụ thực tiễn: Ngày 10 tháng 3, Tòa án nhân dân quận X tuyên án sơ thẩm vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa và không đồng ý với phần quyết định về lãi suất. Thời hạn kháng cáo của nguyên đơn bắt đầu tính từ ngày 11 tháng 3 và kết thúc vào ngày 25 tháng 3. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định tại Điều 184 BLTTDS 2015 thì thời hạn được kéo dài đến ngày làm việc tiếp theo. Trường hợp bị đơn vắng mặt tại phiên tòa vì lý do bất khả kháng và chỉ nhận được bản án vào ngày 20 tháng 3, thời hạn kháng cáo của bị đơn được tính từ ngày 21 tháng 3 đến hết ngày 04 tháng 4.
Kháng cáo quá thời hạn chỉ được xem xét nếu có lý do chính đáng theo quy định tại Điều 275 BLTTDS 2015, kèm theo chứng cứ chứng minh lý do của việc chậm kháng cáo. Việc tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn kháng cáo có ý nghĩa quyết định đến việc Tòa án cấp phúc thẩm có thụ lý, xem xét kháng cáo hay không.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.
Khác với thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày, thời hạn kháng cáo quyết định sơ thẩm ngắn hơn đáng kể. Sự khác biệt này xuất phát từ tính chất của quyết định sơ thẩm: đây là các quyết định mang tính thủ tục, nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình tố tụng, do đó cần được xem xét nhanh chóng để tránh kéo dài vụ án.
Về chủ thể có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm, Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xác định: đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền kháng cáo quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Ví dụ thực tiễn: Tòa án nhân dân quận X ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản với lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Quyết định được tống đạt cho nguyên đơn vào ngày 01/3/2025. Thời hạn kháng cáo của nguyên đơn bắt đầu tính từ ngày 02/3/2025 và kết thúc vào ngày 08/3/2025. Nếu nguyên đơn nộp đơn kháng cáo vào ngày 09/3/2025 thì đơn kháng cáo bị coi là quá hạn và chỉ được xem xét nếu có lý do chính đáng theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Trường hợp đương sự không nhận trực tiếp quyết định mà quyết định được niêm yết công khai theo quy định, thời hạn 07 ngày được tính kể từ ngày niêm yết. Điều này bảo đảm quyền kháng cáo của đương sự trong các trường hợp không thể tống đạt trực tiếp, đồng thời xác định rõ thời điểm bắt đầu tính thời hạn để tránh tranh chấp về tính hợp lệ của kháng cáo.
Thời hạn kháng cáo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được tính theo nguyên tắc chung về thời hạn tố tụng tại Điều 174 Bộ luật này. Theo đó, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức khởi kiện có mặt tại phiên tòa. Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Cách tính thời hạn kháng cáo được xác định như sau: ngày bắt đầu tính thời hạn là ngày tiếp theo ngày tuyên án, không tính ngày tuyên án. Ví dụ, Tòa án tuyên án vào ngày 05 tháng 3, thời hạn kháng cáo bắt đầu tính từ ngày 06 tháng 3 và kết thúc vào hết ngày 20 tháng 3. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật, thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày làm việc tiếp theo sau ngày nghỉ, ngày lễ đó. Quy định này nhằm bảo đảm quyền kháng cáo của đương sự không bị hạn chế do yếu tố khách quan về thời gian.
Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Ví dụ, bản án được tống đạt hợp lệ cho đương sự vắng mặt vào ngày 10 tháng 4, thời hạn kháng cáo bắt đầu tính từ ngày 11 tháng 4 và kết thúc vào hết ngày 25 tháng 4. Việc xác định đúng ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, bởi đây là căn cứ để Tòa án xác định kháng cáo có còn trong thời hạn luật định hay không.
Đối với trường hợp kháng cáo quá hạn, Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định người kháng cáo phải nêu rõ lý do chậm trễ và Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, quyết định chấp nhận hay không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn. Như vậy, việc tính đúng thời hạn kháng cáo không chỉ bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người có quyền kháng cáo theo Điều 271 mà còn là điều kiện tiên quyết để kháng cáo được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Kháng cáo quá hạn là trường hợp người kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo sau khi thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã kết thúc. Theo khoản 1 Điều 273, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Khi đơn kháng cáo được nộp sau mốc thời gian nêu trên, đơn bị coi là kháng cáo quá hạn.
Hậu quả pháp lý của kháng cáo quá hạn được xử lý theo khoản 2 Điều 273. Theo đó, sau khi nhận đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải lập biên bản về việc kháng cáo quá hạn và chuyển biên bản cùng đơn kháng cáo, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Người kháng cáo quá hạn phải trình bày rõ lý do khiến việc nộp đơn không đúng thời hạn. Việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo quá hạn do Tòa án cấp phúc thẩm quyết định trên cơ sở xem xét lý do quá hạn có chính đáng hay không.
Lý do chính đáng thường gặp trong thực tiễn gồm: thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, ốm đau phải điều trị dài ngày, bị cản trở khách quan khác khiến đương sự không thể thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định. Ví dụ, đương sự bị tai nạn phải nằm viện từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 20 sau khi tuyên án, đến ngày thứ 21 mới nộp đơn kháng cáo kèm giấy ra viện. Trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm có căn cứ chấp nhận việc kháng cáo quá hạn vì lý do bất khả kháng. Ngược lại, nếu đương sự chỉ viện dẫn lý do bận công việc, chủ quan không theo dõi thời hạn thì thường không được chấp nhận.
Điều kiện tiên quyết để được xem xét kháng cáo quá hạn là người nộp đơn phải thuộc diện người có quyền kháng cáo theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác. Người không có quyền kháng cáo thì không phát sinh vấn đề kháng cáo quá hạn. Như vậy, kháng cáo quá hạn không đương nhiên bị bác bỏ mà được xem xét thông qua thủ tục tố tụng riêng, bảo đảm quyền tiếp cận công lý của đương sự trong trường hợp có trở ngại khách quan.
Thực tiễn xét xử cho thấy việc bảo đảm thời hạn kháng cáo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 phụ thuộc chặt chẽ vào trách nhiệm của Tòa án trong việc tống đạt, niêm yết bản án và hướng dẫn quyền kháng cáo cho đương sự. Khoản 1 Điều 273 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ. Trên thực tế, nhiều trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa không nhận được bản án kịp thời do địa chỉ thay đổi, dẫn đến việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo gặp khó khăn. Tòa án phải thực hiện đúng thủ tục tống đạt, niêm yết theo quy định tại Chương X của Bộ luật này để bảo đảm quyền kháng cáo của đương sự không bị xâm phạm.
Ví dụ thực tiễn: Trong một vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Sau khi tuyên án, Tòa án tiến hành niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú. Bị đơn cho rằng mình không biết việc niêm yết nên nộp đơn kháng cáo sau 20 ngày kể từ ngày niêm yết. Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc niêm yết đã hợp lệ, thời hạn kháng cáo đã hết nên trả lại đơn kháng cáo. Quyết định này là đúng pháp luật vì khoản 1 Điều 273 đã quy định rõ thời điểm tính thời hạn đối với trường hợp niêm yết hợp lệ.
Bên cạnh đó, thực tiễn cũng ghi nhận việc Tòa án chủ động giải thích quyền kháng cáo ngay tại phiên tòa và ghi rõ trong bản án là biện pháp quan trọng giúp đương sự nắm được quyền và thời hạn kháng cáo. Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền kháng cáo. Việc bảo đảm thông tin đầy đủ về thời hạn kháng cáo cho các chủ thể này là điều kiện tiên quyết để quyền kháng cáo được thực hiện trên thực tế, tránh tình trạng đương sự mất quyền kháng cáo do không nắm rõ quy định pháp luật.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.