Điều 173 BLTTHS 2015: Thời hạn tạm giam để điều tra | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 173 BLTTHS 2015: Thời hạn tạm giam để điều tra

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Thời hạn tạm giam để điều tra
  2. Các mức thời hạn theo loại tội
  3. Gia hạn tạm giam
  4. Chuyển biện pháp ngăn chặn khác
  5. Quyền của bị can và gia đình

Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra 1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 2. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam. Việc gia hạn tạm giam được quy định nh­ư sau: a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng; b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng; c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng; d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng. 3. Thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát: a)[105] Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạ

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Thời hạn tạm giam để điều tra

Thời hạn tạm giam để điều tra được quy định tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH), có mối liên hệ chặt chẽ với thời hạn điều tra quy định tại Điều 172 của Bộ luật này. Về nguyên tắc, thời hạn tạm giam để điều tra không được quá thời hạn điều tra, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, cần gia hạn điều tra theo quy định.

Theo khoản 1 Điều 173, thời hạn tạm giam bị can để điều tra tối đa là 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam. Việc gia hạn tạm giam được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 173: đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn một lần không quá 01 tháng; tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn hai lần, lần thứ nhất không quá 02 tháng và lần thứ hai không quá 01 tháng; tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn hai lần, mỗi lần không quá 03 tháng; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Như vậy, tổng thời hạn tạm giam để điều tra tối đa đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể lên đến 16 tháng (04 tháng ban đầu cộng ba lần gia hạn, mỗi lần 04 tháng). Ví dụ thực tiễn: trong vụ án tham ô tài sản có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, cần thu thập chứng cứ tại nhiều địa phương, giám định tư pháp kéo dài, Cơ quan điều tra có thể đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam đến ba lần để bảo đảm hoàn tất điều tra. Trường hợp vụ án được phục hồi điều tra, điều tra bổ sung hoặc điều tra lại, thời hạn tạm giam được áp dụng theo quy định tại khoản 5 Điều 173, bảo đảm phù hợp với thời hạn điều tra tương ứng quy định tại Điều 172.

Quy định này thể hiện nguyên tắc cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm hiệu quả điều tra, xử lý tội phạm và bảo vệ quyền con người, quyền tự do cá nhân của bị can, tránh tình trạng tạm giam kéo dài tùy tiện, không có căn cứ pháp luật.

2. Các mức thời hạn theo loại tội

Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn tạm giam để điều tra được xác định theo loại tội phạm, cụ thể như sau:

  • Tội phạm ít nghiêm trọng: thời hạn tạm giam tối đa là 02 tháng.
  • Tội phạm nghiêm trọng: thời hạn tạm giam tối đa là 03 tháng.
  • Tội phạm rất nghiêm trọng: thời hạn tạm giam tối đa là 04 tháng.
  • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: thời hạn tạm giam tối đa là 04 tháng.

Việc phân loại tội phạm nêu trên được xác định theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Theo đó, tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù; tội phạm nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 03 năm đến 07 năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 07 năm đến 15 năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Ví dụ thực tiễn: bị can bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (khung hình phạt đến 03 năm tù) thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, thời hạn tạm giam để điều tra tối đa là 02 tháng. Trong khi đó, bị can bị khởi tố về tội giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự (khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình) thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn tạm giam tối đa là 04 tháng.

Thời hạn tạm giam để điều tra được tính từ ngày bắt bị can để tạm giam đến ngày kết thúc điều tra. Trường hợp vụ án có nhiều tội phạm, thời hạn tạm giam được xác định theo loại tội phạm nặng nhất. Khi hết thời hạn tạm giam, nếu xét thấy cần thiết, cơ quan điều tra phải làm thủ tục đề nghị gia hạn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Gia hạn tạm giam

Gia hạn tạm giam là việc cơ quan có thẩm quyền kéo dài thời hạn tạm giam đối với bị can khi thời hạn tạm giam để điều tra đã hết nhưng vụ án có tính chất phức tạp, chưa thể kết thúc điều tra. Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đối với tội phạm ít nghiêm trọng, thời hạn tạm giam để điều tra không quá 02 tháng và có thể được gia hạn một lần không quá 01 tháng. Đối với tội phạm nghiêm trọng, thời hạn tạm giam không quá 03 tháng, được gia hạn hai lần, lần thứ nhất không quá 02 tháng, lần thứ hai không quá 01 tháng. Đối với tội phạm rất nghiêm trọng, thời hạn tạm giam không quá 04 tháng, được gia hạn hai lần, mỗi lần không quá 03 tháng. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn tạm giam không quá 04 tháng, được gia hạn ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Thẩm quyền gia hạn tạm giam được quy định tại khoản 2 Điều 173. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có thẩm quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thẩm quyền gia hạn thuộc về Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu. Trường hợp vụ án do cơ quan điều tra cấp tỉnh hoặc cấp quân khu thụ lý điều tra, việc gia hạn tạm giam do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.

Ví dụ thực tiễn: Bị can A bị khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Thời hạn tạm giam để điều tra ban đầu là 04 tháng. Do vụ án liên quan đến nhiều bị hại ở nhiều tỉnh, cần ủy thác điều tra và giám định bổ sung, cơ quan điều tra đề nghị Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gia hạn tạm giam lần thứ nhất thêm 04 tháng. Việc gia hạn phải được thể hiện bằng lệnh gia hạn tạm giam, nêu rõ lý do và thời hạn gia hạn cụ thể.

Khi gia hạn tạm giam, cơ quan điều tra phải thông báo kịp thời cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Thời hạn tạm giam để điều tra không được vượt quá thời hạn điều tra quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời gian bị tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết tiếp tục tạm giam, cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ biện pháp tạm giam để trả tự do cho bị can, bảo đảm quyền con người theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

4. Chuyển biện pháp ngăn chặn khác

Trong quá trình điều tra, việc áp dụng biện pháp tạm giam không phải là bất biến mà có thể được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn khi căn cứ áp dụng không còn. Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Khi không còn căn cứ để tạm giam thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác”. Quy định này đặt ra nghĩa vụ chủ động, thường xuyên rà soát tính hợp pháp và sự cần thiết của việc tạm giam trong suốt thời hạn điều tra, không chờ đến khi hết thời hạn tạm giam mới xem xét.

Việc chuyển từ tạm giam sang biện pháp ngăn chặn khác như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện khi có đủ căn cứ xác định bị can không còn nguy cơ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc cản trở hoạt động điều tra. Ví dụ thực tiễn: bị can phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo, đã khắc phục hậu quả; sau một thời gian tạm giam, cơ quan điều tra đánh giá không còn dấu hiệu bỏ trốn và quyết định thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Việc chuyển đổi này không làm chấm dứt thời hạn điều tra theo Điều 172, cũng không đương nhiên rút ngắn thời hạn tạm giam đã được phê chuẩn, mà chỉ chấm dứt việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can.

Thẩm quyền quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn thuộc về cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án tùy theo giai đoạn tố tụng, nhưng đối với biện pháp bảo lĩnh và đặt tiền để bảo đảm, việc thay thế phải có sự đồng ý của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 121 và Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi chuyển sang biện pháp ngăn chặn khác, cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định bằng văn bản, giao cho bị can và thông báo cho người bào chữa, đồng thời thực hiện ngay việc trả tự do cho bị can nếu không còn biện pháp ngăn chặn nào khác được áp dụng.

5. Quyền của bị can và gia đình

Trong thời hạn tạm giam để điều tra theo Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị can và gia đình có các quyền cơ bản nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo đúng tinh thần của Điều 2 Bộ luật này. Bị can có quyền được thông báo, nhận các quyết định tố tụng liên quan đến việc tạm giam, gia hạn tạm giam; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu xét thấy việc tạm giam hoặc gia hạn tạm giam trái pháp luật; quyền nhờ người bào chữa, tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; quyền được gặp thân nhân, người bào chữa theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam.

Gia đình bị can có quyền được thông báo về việc bị can bị tạm giam, thời hạn tạm giam và việc gia hạn tạm giam theo quy định tại Điều 173. Việc thông báo này giúp gia đình chủ động thực hiện quyền mời người bào chữa, gửi đơn khiếu nại hoặc đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn khi thời hạn tạm giam sắp hết mà chưa có quyết định gia hạn hoặc chưa có quyết định xử lý tiếp theo. Thực tiễn cho thấy, nhiều trường hợp gia đình bị can không nắm rõ thời hạn tạm giam dẫn đến việc bị can bị giam quá hạn mà không có khiếu nại kịp thời. Ví dụ, khi cơ quan điều tra đã hết thời hạn tạm giam theo khoản 1 Điều 173 nhưng chưa ra quyết định gia hạn theo khoản 2, gia đình có quyền gửi đơn đến Viện kiểm sát cùng cấp yêu cầu kiểm sát việc tạm giam, bảo đảm không để tình trạng giam giữ kéo dài trái luật.

Ngoài ra, bị can và gia đình có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác nhẹ hơn như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm khi đủ điều kiện theo quy định. Quyền này gắn liền với nguyên tắc suy đoán vô tội và bảo đảm quyền bào chữa, góp phần hạn chế việc lạm dụng tạm giam trong giai đoạn điều tra.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 173 về thời hạn tạm giam để điều tra
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 - Điều 172 về thời hạn điều tra
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp