Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại 1.[89] Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. 2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. 3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được quyết định khởi tố vụ án đối với một số tội phạm nhất định khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Đây là ngoại lệ của nguyên tắc khởi tố công theo quy định tại Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, theo đó cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm khởi tố vụ án khi xác định có dấu hiệu tội phạm mà không phụ thuộc vào ý chí của người bị xâm hại.
Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: "Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết". Các tội danh này chủ yếu xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trong phạm vi quan hệ dân sự, gia đình hoặc mức độ nguy hiểm thấp, nên Nhà nước tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ thực tiễn: A và B xảy ra mâu thuẫn, A gây thương tích cho B với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%. Hành vi của A có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, nếu B không có yêu cầu khởi tố thì cơ quan điều tra không được khởi tố vụ án. Ngược lại, nếu B có đơn yêu cầu thì cơ quan có thẩm quyền phải xem xét khởi tố theo trình tự chung.
Như vậy, khởi tố theo yêu cầu của bị hại thể hiện sự cân bằng giữa lợi ích công trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và quyền tự định đoạt của cá nhân bị xâm hại, đồng thời hạn chế việc can thiệp không cần thiết của quyền lực nhà nước vào các quan hệ mang tính chất riêng tư.
Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết. Các tội danh thuộc nhóm này gồm: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135), tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136), tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138), tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139), tội hiếp dâm (Điều 141), tội cưỡng dâm (Điều 143), tội làm nhục người khác (Điều 155) và tội vu khống (Điều 156).
Điểm đặc trưng của nhóm tội này là hành vi xâm phạm chủ yếu đến quyền nhân thân, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, nên pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại trong việc có yêu cầu xử lý hình sự hay không. Cơ quan có thẩm quyền không được tự ý khởi tố nếu không có yêu cầu hợp lệ của bị hại, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 155. Ví dụ thực tiễn: anh A bị anh B cố ý gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%. Đây là trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nếu anh A không có đơn yêu cầu khởi tố, Cơ quan điều tra không được khởi tố vụ án, mặc dù hành vi của anh B đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Về thẩm quyền khởi tố, Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, đối với các tội phạm thuộc nhóm khởi tố theo yêu cầu, việc ra quyết định khởi tố chỉ được thực hiện sau khi đã có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại. Yêu cầu này phải được thể hiện bằng văn bản hoặc ghi nhận trong biên bản theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại được thực hiện theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, đối với những tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự, việc khởi tố chỉ được tiến hành khi có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết.
Về thủ tục, yêu cầu khởi tố của bị hại phải được thể hiện bằng văn bản và gửi đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Căn cứ Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án và các cơ quan, đơn vị khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Khi tiếp nhận yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra tính hợp lệ về chủ thể yêu cầu, hình thức văn bản và phạm vi tội phạm thuộc diện khởi tố theo yêu cầu. Nếu yêu cầu hợp lệ và có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án.
Về thời hạn, khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu khởi tố, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án. Trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ theo quy định tại Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức. Ví dụ thực tiễn: chị A bị hàng xóm cố ý gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 8%, thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Chị A làm đơn yêu cầu khởi tố gửi Cơ quan điều tra. Trong 05 ngày kể từ ngày nhận đơn, Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố. Nếu sau đó chị A tự nguyện rút yêu cầu, vụ án phải được đình chỉ.
Như vậy, thủ tục yêu cầu khởi tố đòi hỏi văn bản hợp lệ từ đúng chủ thể, gửi đúng cơ quan có thẩm quyền, và thời hạn giải quyết là 05 ngày kể từ ngày nhận yêu cầu. Quy định này bảo đảm quyền tự định đoạt của bị hại đối với nhóm tội phạm xâm phạm lợi ích cá nhân, đồng thời ràng buộc trách nhiệm giải quyết kịp thời của cơ quan tiến hành tố tụng.
Theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Quy định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng ý chí tự nguyện của bị hại trong các vụ án khởi tố theo yêu cầu. Việc rút yêu cầu khởi tố là quyền định đoạt của bị hại, xuất phát từ bản chất của nhóm tội phạm này: lợi ích bị xâm hại chủ yếu mang tính cá nhân, nên Nhà nước chỉ can thiệp khi bị hại có yêu cầu và dừng can thiệp khi bị hại không còn mong muốn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về thời điểm rút yêu cầu, pháp luật không giới hạn giai đoạn tố tụng cụ thể. Bị hại có thể rút yêu cầu ở bất kỳ giai đoạn nào từ khi khởi tố cho đến trước khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy việc rút yêu cầu thường phát sinh hiệu lực rõ ràng nhất ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm. Khi bị hại rút yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự và các quy định tương ứng về đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án.
Ví dụ thực tiễn: Anh A bị anh B cố ý gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%. Đây là tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Sau khi A có đơn yêu cầu khởi tố, cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án. Trong quá trình điều tra, B đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và A tự nguyện làm đơn rút yêu cầu khởi tố. Cơ quan điều tra xác minh việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, không có dấu hiệu ép buộc, nên đã ra quyết định đình chỉ vụ án.
Trường hợp ngoại lệ quan trọng: nếu có căn cứ cho thấy bị hại rút yêu cầu do bị đe dọa, cưỡng ép, mua chuộc nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục giải quyết vụ án. Quy định này ngăn chặn việc lợi dụng quyền rút yêu cầu để trục lợi hoặc gây áp lực lên bị hại, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Thực tiễn áp dụng Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy cơ chế khởi tố theo yêu cầu của bị hại đã tạo lập hành lang pháp lý quan trọng để bị hại chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đối với các tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 155, việc có khởi tố vụ án hay không phụ thuộc trực tiếp vào ý chí của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại. Điều này giúp bị hại cân nhắc giữa lợi ích được pháp luật bảo vệ và các mối quan hệ xã hội, gia đình, dòng tộc, đặc biệt trong các vụ án xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm có tính chất ít nghiêm trọng.
Ví dụ thực tiễn: Trong vụ án cố ý gây thương tích thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, sau khi sự việc xảy ra, bị hại và người gây thương tích đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại. Bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố. Căn cứ khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án. Quyết định này phản ánh đúng nguyên tắc tôn trọng ý chí của bị hại, đồng thời tránh việc đưa vụ việc ra xử lý hình sự khi mục đích bảo vệ quyền lợi của bị hại đã đạt được thông qua thỏa thuận dân sự.
Ngược lại, khi bị hại không rút yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm khởi tố, điều tra theo quy định tại Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự. Thực tiễn cho thấy một số trường hợp bị hại bị đe dọa, ép buộc rút yêu cầu; khi đó, cơ quan tiến hành tố tụng cần xác minh tính tự nguyện của việc rút yêu cầu để bảo đảm quyền lợi chính đáng của bị hại không bị xâm phạm. Việc giải thích rõ quyền và nghĩa vụ cho bị hại ngay từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi bị hại trên thực tế.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.