Điều 138. Quyền và nghĩa vụ của Đại hội đồng cổ đông 1. Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. 2. Đại hội đồng cổ đông có quyền và nghĩa vụ sau đây: a) Thông qua định hướng phát triển của công ty; b) Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần; c) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên; d) Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác; đ) Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; e) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm; g) Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại; h) Xem xét, xử lý vi phạm của thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty; i) Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty; k) Quyết định ngân sách hoặc tổng mức thù lao, thưởng và lợi ích khác cho Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; l) Phê duyệt quy chế quản trị nội bộ; quy chế hoạt động Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; m) Phê duyệt danh sách công ty kiểm toán độc lập; quyết định công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm tra hoạt động của công ty, bãi miễn kiểm toán viên độc lập khi xét thấy cần thiết; n) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. ĐHĐCĐ có quyền thông qua định hướng phát triển công ty; quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên; quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị từ 35% trở lên tổng giá trị tài sản ghi trong báo cáo tài chính gần nhất; quyết định tổ chức lại, giải thể công ty và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Điều 139 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về triệu tập và tiến hành họp ĐHĐCĐ. Cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên phải được tổ chức mỗi năm một lần, trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Người triệu tập họp ĐHĐCĐ phải gửi thông báo mời họp đến tất cả cổ đông có quyền dự họp chậm nhất là 21 ngày trước ngày khai mạc nếu Điều lệ công ty không quy định thời hạn dài hơn. Cuộc họp chỉ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết; trường hợp lần thứ nhất không đủ điều kiện, lần thứ hai được triệu tập trong thời hạn 30 ngày và tiến hành khi có cổ đông dự họp đại diện từ 33% tổng số phiếu biểu quyết trở lên. Nghị quyết ĐHĐCĐ về nội dung thông thường được thông qua khi được số cổ đông đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết tán thành; đối với các vấn đề quan trọng như loại cổ phần, tổ chức lại, giải thể công ty thì tỷ lệ tán thành tối thiểu là 65%.
Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A có tổng tài sản 100 tỷ đồng. Hội đồng quản trị muốn bán một nhà xưởng trị giá 40 tỷ đồng. Theo điểm d khoản 2 Điều 138, giao dịch này vượt 35% tổng giá trị tài sản nên thuộc thẩm quyền quyết định của ĐHĐCĐ, Hội đồng quản trị không được tự quyết. Nghị quyết tương ứng phải được cổ đông đại diện từ 65% tổng số phiếu biểu quyết tán thành theo quy định tại Điều 139. Quyền biểu quyết của cổ đông phổ thông tại ĐHĐCĐ được bảo đảm theo Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, theo đó mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết.
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty cổ phần. Vị trí pháp lý này được xác lập trực tiếp từ cơ cấu tổ chức quản lý do Luật Doanh nghiệp 2020 quy định, trong đó Đại hội đồng cổ đông là cơ quan duy nhất tập hợp toàn bộ cổ đông có quyền biểu quyết, nắm giữ thẩm quyền quyết định những vấn đề nền tảng nhất của công ty.
Theo Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020, Đại hội đồng cổ đông có quyền thông qua định hướng phát triển công ty; quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát; quyết định đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị từ 35% trở lên tổng giá trị tài sản ghi trong báo cáo tài chính gần nhất; quyết định tổ chức lại, giải thể công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty. Đây là những quyền quyết định tối cao mà không cơ quan nào khác trong công ty được thay thế.
Tính quyền lực cao nhất còn thể hiện qua cơ chế triệu tập họp tại Điều 139 Luật Doanh nghiệp 2020. Đại hội đồng cổ đông họp thường niên hoặc bất thường, và chỉ những nghị quyết được thông qua theo đúng trình tự, điều kiện về tỷ lệ biểu quyết và thể thức hợp lệ mới có giá trị ràng buộc toàn bộ cổ đông, kể cả cổ đông vắng mặt hoặc không đồng ý. Quyền lực của Đại hội đồng cổ đông bắt nguồn từ quyền của từng cổ đông phổ thông theo Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, bao gồm quyền tham dự, phát biểu, biểu quyết trực tiếp hoặc ủy quyền, quyền nhận cổ tức và quyền tiếp cận thông tin.
Ví dụ thực tiễn: khi một công ty cổ phần muốn phát hành thêm cổ phần để tăng vốn điều lệ, Hội đồng quản trị chỉ được trình phương án; quyết định cuối cùng thuộc về Đại hội đồng cổ đông với tỷ lệ biểu quyết theo quy định. Nếu Hội đồng quản trị tự ý quyết định vượt thẩm quyền, nghị quyết đó không có giá trị pháp lý và có thể bị tuyên vô hiệu. Như vậy, Đại hội đồng cổ đông không chỉ là cơ quan quyền lực cao nhất về danh nghĩa mà còn là thiết chế bảo đảm quyền làm chủ thực chất của cổ đông đối với công ty.
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần, có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất thuộc về định hướng phát triển, cơ cấu tổ chức quản trị và các giao dịch có ý nghĩa chiến lược đối với doanh nghiệp. Theo khoản 1 Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020, Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần.
Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 138, bao gồm các nhóm vấn đề chủ yếu sau: thông qua định hướng phát triển của công ty; quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên; quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị từ 35% trở lên tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tỷ lệ hoặc giá trị khác; quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; thông qua báo cáo tài chính hằng năm; quyết định tổ chức lại, giải thể công ty; và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Ví dụ thực tiễn: một công ty cổ phần có tổng giá trị tài sản theo báo cáo tài chính gần nhất là 100 tỷ đồng. Khi Hội đồng quản trị muốn bán một dây chuyền sản xuất trị giá 40 tỷ đồng, giao dịch này vượt ngưỡng 35% tổng giá trị tài sản nên thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội đồng cổ đông, không thuộc thẩm quyền tự quyết của Hội đồng quản trị. Nếu Điều lệ công ty quy định tỷ lệ thấp hơn, ví dụ 20%, thì giao dịch bán tài sản trị giá 25 tỷ đồng cũng phải trình Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông được thực hiện thông qua các cuộc họp theo quy định tại Điều 139. Cổ đông phổ thông có quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền tại Đại hội đồng cổ đông theo điểm a khoản 1 Điều 115. Việc phân định rõ thẩm quyền giữa Đại hội đồng cổ đông với Hội đồng quản trị có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, và ngăn ngừa sự lạm quyền của cơ quan quản lý điều hành công ty.
Triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông là khâu thủ tục tiên quyết bảo đảm tính hợp pháp của mọi nghị quyết được thông qua tại cuộc họp. Theo khoản 1 Điều 139 Luật Doanh nghiệp 2020, người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải gửi thông báo mời họp đến tất cả cổ đông có quyền dự họp chậm nhất là 21 ngày trước ngày khai mạc, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thời hạn dài hơn. Thông báo phải nêu rõ thời gian, địa điểm, chương trình họp và kèm theo tài liệu, dự thảo nghị quyết để cổ đông nghiên cứu trước.
Về thẩm quyền triệu tập, Điều 139 phân định rõ các chủ thể: Hội đồng quản trị triệu tập họp thường niên và họp bất thường theo thẩm quyền quy định tại Điều 138; trường hợp Hội đồng quản trị không triệu tập trong thời hạn luật định, Ban kiểm soát có quyền triệu tập thay thế; nếu Ban kiểm soát cũng không thực hiện, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên (hoặc tỷ lệ khác thấp hơn theo Điều lệ) có quyền tự triệu tập theo quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 139. Quyền này bắt nguồn từ Điều 115, theo đó cổ đông phổ thông có quyền tham dự và phát biểu ý kiến tại Đại hội đồng cổ đông, đồng thời có quyền yêu cầu triệu tập họp bất thường khi phát hiện sai phạm trong quản trị công ty.
Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A có cổ đông B nắm 7% cổ phần phổ thông. B phát hiện Hội đồng quản trị quyết định đầu tư dự án vượt thẩm quyền mà không trình Đại hội đồng cổ đông. B gửi văn bản yêu cầu Hội đồng quản trị triệu tập họp bất thường. Quá 30 ngày kể từ ngày nhận yêu cầu mà Hội đồng quản trị không triệu tập, B có quyền tự mình triệu tập họp theo trình tự luật định. Nghị quyết được thông qua tại cuộc họp do B triệu tập hợp lệ vẫn có giá trị pháp lý đầy đủ, miễn đáp ứng điều kiện về tỷ lệ tham dự và biểu quyết.
Vi phạm quy định về thời hạn, nội dung thông báo hoặc chủ thể triệu tập có thể dẫn đến hệ quả nghị quyết bị tuyên vô hiệu theo quy định tại Điều 151 Luật Doanh nghiệp 2020. Do đó, doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt trình tự triệu tập để bảo vệ quyền lợi cổ đông và tính ổn định của các quyết định quản trị.
Theo quy định tại Điều 139 Luật Doanh nghiệp 2020, cuộc họp Đại hội đồng cổ đông chỉ được tiến hành khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tỷ lệ cổ đông dự họp và tổng số phiếu biểu quyết đại diện. Cụ thể, khoản 1 Điều 139 quy định cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định. Đây là điều kiện tiên quyết nhằm bảo đảm tính đại diện và giá trị pháp lý của các quyết định được thông qua tại cuộc họp.
Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành do không đạt tỷ lệ trên, khoản 2 Điều 139 cho phép triệu tập cuộc họp lần thứ hai. Cuộc họp lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện từ 33% tổng số phiếu biểu quyết trở lên; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định. Nếu cuộc họp lần thứ hai vẫn không đủ điều kiện, cuộc họp lần thứ ba được triệu tập và tiến hành không phụ thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp, theo quy định tại khoản 3 Điều 139. Quy định giảm dần tỷ lệ này thể hiện nguyên tắc bảo đảm hoạt động quản trị liên tục của công ty, tránh tình trạng tê liệt do không đủ cổ đông tham dự.
Điều kiện về tỷ lệ nêu trên gắn liền với quyền tham dự và biểu quyết của cổ đông phổ thông được quy định tại Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020. Theo đó, cổ đông phổ thông có quyền tham dự, phát biểu trong Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền. Việc ủy quyền tham dự phải được lập thành văn bản theo quy định, bảo đảm tính xác thực của người đại diện dự họp.
Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A có tổng số phiếu biểu quyết là 1.000 phiếu. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên lần thứ nhất chỉ có cổ đông đại diện 480 phiếu tham dự, tương đương 48%, không đạt tỷ lệ trên 50% nên không đủ điều kiện tiến hành. Công ty triệu tập cuộc họp lần thứ hai; lần này có cổ đông đại diện 350 phiếu tham dự, đạt 35%, vượt ngưỡng 33% nên cuộc họp được tiến hành hợp lệ. Trường hợp lần thứ hai chỉ có 300 phiếu, công ty phải triệu tập lần thứ ba và cuộc họp lần thứ ba được tiến hành hợp lệ không phụ thuộc vào số phiếu tham dự.
Quyền biểu quyết của cổ đông tại Đại hội đồng cổ đông là một trong những quyền cơ bản, gắn liền với tư cách sở hữu cổ phần. Theo khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông phổ thông có quyền tham dự, phát biểu trong Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết. Nguyên tắc "một cổ phần, một phiếu biểu quyết" bảo đảm quyền lợi tương xứng với tỷ lệ sở hữu vốn góp của từng cổ đông.
Về phạm vi thẩm quyền quyết định, Điều 138 Luật Doanh nghiệp 2020 liệt kê các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, bao gồm định hướng phát triển công ty, loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán, bầu miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và Kiểm soát viên, đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị từ 35% trở lên so với tổng giá trị tài sản ghi trong báo cáo tài chính gần nhất, thông qua báo cáo tài chính hằng năm, và các vấn đề khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty. Cổ đông chỉ được biểu quyết đối với những nội dung thuộc thẩm quyền này; các vấn đề vượt quá phạm vi hoặc thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị không thuộc quyền quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
Điều 139 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định điều kiện tiến hành họp và thể thức thông qua nghị quyết. Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định. Nghị quyết về nội dung thông thường được thông qua khi được số cổ đông đại diện trên 50% tổng số phiếu biểu quyết tán thành; đối với các vấn đề quan trọng như loại cổ phần, tổ chức lại, giải thể công ty, tỷ lệ tán thành phải đạt từ 65% trở lên, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tỷ lệ cao hơn.
Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A có vốn điều lệ 100 tỷ đồng, cổ đông B sở hữu 20% cổ phần phổ thông. Khi Đại hội đồng cổ đông biểu quyết thông qua việc bán tài sản có giá trị 40 tỷ đồng (chiếm 40% tổng giá trị tài sản), cổ đông B có 20% tổng số phiếu biểu quyết. Nghị quyết chỉ được thông qua nếu đạt tỷ lệ tán thành theo quy định tại Điều 139 và Điều lệ công ty; cổ đông B không thể đơn phương quyết định nhưng có quyền bỏ phiếu tán thành hoặc phản đối tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mình.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.