Điều 135. Trả cổ tức 1. Cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi được thực hiện theo điều kiện áp dụng riêng cho mỗi loại cổ phần ưu đãi. 2. Cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; b) Đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; c) Ngay sau khi trả hết số cổ tức, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn. 3. Cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty. Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam và theo các phương thức thanh toán theo quy định của pháp luật. 4. Cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên. Hội đồng quản trị lập danh sách cổ đông được nhận cổ tức, xác định mức cổ tức được trả đối với từng cổ phần, thời hạn và hình thức trả chậm nhất là 30 ngày trước mỗi lần trả cổ tức. Thông báo về trả cổ tức được gửi bằng phương thức để bảo đảm đến cổ đông theo địa chỉ đăng ký trong sổ đăng ký cổ đông chậm nhất là 15 ngày trước khi thực hiện trả cổ tức. Thông báo phải bao gồm các nội dung sau đây: a) Tên công ty và địa c
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về việc trả cổ tức cho cổ đông công ty cổ phần. Theo đó, cổ tức được hiểu là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Khoản 1 Điều 135 quy định cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ theo số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 69 Luật Doanh nghiệp 2020, bao gồm: công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty; ngay sau khi trả cổ tức, công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
Khoản 2 Điều 135 quy định cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty từ nguồn vốn thặng dư, hoặc bằng tài sản khác. Trường hợp chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam và theo các phương thức thanh toán theo quy định của pháp luật. Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A kết thúc năm tài chính với lợi nhuận ròng 10 tỷ đồng, sau khi trích lập các quỹ và hoàn thành nghĩa vụ thuế, Hội đồng quản trị quyết định chi trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 15% mệnh giá cổ phần cho cổ đông phổ thông.
Khoản 3 Điều 135 quy định cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên. Hội đồng quản trị lập danh sách cổ đông được nhận cổ tức, xác định mức cổ tức được trả đối với từng cổ phần, thời hạn và hình thức trả chậm nhất là 30 ngày trước mỗi lần trả cổ tức. Thông báo về việc trả cổ tức phải được gửi đến cổ đông chậm nhất là 15 ngày trước ngày thực hiện trả cổ tức.
Khoản 4 Điều 135 quy định trường hợp cổ đông chuyển nhượng cổ phần trong thời gian giữa thời điểm kết thúc lập danh sách cổ đông và thời điểm trả cổ tức thì người chuyển nhượng cổ phần là người nhận cổ tức từ công ty. Quy định này bảo đảm quyền lợi của bên chuyển nhượng đã sở hữu cổ phần tại thời điểm chốt danh sách. Liên quan đến việc thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại, Điều 136 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định trường hợp công ty đã thanh toán một phần hoặc toàn bộ cổ phần được mua lại nhưng không bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn thì các chủ nợ có quyền yêu cầu công ty hoàn trả khoản tiền đó.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ tức chỉ được thanh toán khi công ty cổ phần đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
Ba điều kiện trên mang tính đồng thời, bắt buộc. Việc trả cổ tức không chỉ là quyền của cổ đông mà còn là nghĩa vụ tài chính của công ty, do đó pháp luật đặt ra các giới hạn nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và duy trì năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Ngoài ra, khoản 1 Điều 135 quy định cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ trên lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức thuộc nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Quy định này liên hệ chặt chẽ với Điều 69 về điều kiện chia lợi nhuận, theo đó doanh nghiệp chỉ được chia lợi nhuận khi kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính và sau khi chia vẫn bảo đảm thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A có lợi nhuận ròng năm 2024 là 10 tỷ đồng nhưng còn lỗ lũy kế 3 tỷ đồng từ năm 2023. Trước khi trả cổ tức, công ty phải bù đắp đủ 3 tỷ đồng lỗ lũy kế, trích lập quỹ dự phòng tài chính và các quỹ khác theo Điều lệ, hoàn thành nghĩa vụ thuế. Chỉ phần lợi nhuận còn lại sau các nghĩa vụ này mới được dùng để chi trả cổ tức. Nếu công ty A vẫn còn khoản vay ngân hàng đến hạn mà sau khi trả cổ tức không đủ nguồn thanh toán, việc chi trả phải tạm hoãn.
Trường hợp công ty đã tạm ứng cổ tức nhưng sau đó không đủ điều kiện, Điều 136 yêu cầu các cổ đông phải hoàn trả lại số tiền hoặc tài sản đã nhận, bảo đảm nguyên tắc thượng tôn lợi ích chủ nợ và sự lành mạnh tài chính của công ty.
Căn cứ khoản 5 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ tức được định nghĩa là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác. Từ định nghĩa này, cổ tức trong công ty cổ phần được phân loại theo hai tiêu chí cơ bản: theo hình thức thanh toán và theo loại cổ phần.
Thứ nhất, phân loại theo hình thức thanh toán. Cổ tức bằng tiền mặt là hình thức phổ biến nhất, trong đó công ty chi trả lợi nhuận trực tiếp bằng tiền cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần. Cổ tức bằng tài sản khác là trường hợp công ty trả cổ tức bằng tài sản không phải tiền mặt, ví dụ bằng cổ phiếu của chính công ty (cổ tức bằng cổ phiếu) hoặc bằng hàng hóa, quyền tài sản khác. Việc trả cổ tức bằng tài sản khác phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua và tuân thủ quy định tại khoản 3 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020 về thời hạn thanh toán.
Thứ hai, phân loại theo loại cổ phần. Cổ tức của cổ phần ưu đãi cổ tức được trả theo mức cố định hoặc theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá cổ phần, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh hằng năm, theo quy định tại khoản 2 Điều 117 Luật Doanh nghiệp 2020. Cổ tức của cổ phần ưu đãi hoàn lại được trả theo quy định tại Điều 118. Cổ tức của cổ phần phổ thông được chi trả sau khi công ty đã hoàn thành nghĩa vụ trả cổ tức cho cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi, theo thứ tự ưu tiên quy định tại khoản 2 Điều 135.
Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A phát hành 1.000.000 cổ phần phổ thông và 100.000 cổ phần ưu đãi cổ tức với mức cổ tức cố định 10%/năm trên mệnh giá 10.000 đồng. Năm tài chính kết thúc, công ty có lợi nhuận ròng đủ điều kiện chia theo Điều 69. Công ty phải thanh toán trước 100 triệu đồng cổ tức cho cổ đông ưu đãi, sau đó mới chia phần lợi nhuận còn lại cho cổ đông phổ thông theo tỷ lệ sở hữu.
Việc phân loại cổ tức có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, điều kiện chi trả và trách nhiệm hoàn trả khi vi phạm quy định tại Điều 136 về thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại.
Thời hạn trả cổ tức được quy định tại khoản 4 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020: "Cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên". Đây là thời hạn tối đa mang tính bắt buộc, áp dụng cho mọi hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác.
Thời điểm bắt đầu tính thời hạn là ngày kết thúc cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, không phải ngày ra nghị quyết chia cổ tức hay ngày chốt danh sách cổ đông. Ví dụ: Công ty cổ phần A tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên kết thúc ngày 20/4/2024, nghị quyết thông qua mức cổ tức 10% bằng tiền. Công ty phải hoàn tất thanh toán cổ tức cho toàn bộ cổ đông chậm nhất đến ngày 20/10/2024. Nếu công ty chậm trả, cổ đông có quyền khởi kiện yêu cầu thanh toán kèm lãi chậm trả theo quy định pháp luật dân sự.
Trường hợp Hội đồng quản trị quyết định trả cổ tức giữa kỳ theo khoản 3 Điều 135, thời hạn thanh toán vẫn phải tuân thủ mốc 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên gần nhất, không phải từ ngày ra quyết định trả cổ tức giữa kỳ. Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi cổ đông, tránh tình trạng doanh nghiệp kéo dài thời gian chi trả.
Liên quan đến thời hạn trả cổ tức, cần lưu ý mối liên hệ với Điều 69 Luật Doanh nghiệp 2020 về điều kiện chia lợi nhuận: công ty chỉ được trả cổ tức khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, bảo toàn đủ vốn điều lệ và các quỹ theo quy định. Ngoài ra, Điều 136 quy định trường hợp đã trả cổ tức nhưng sau đó phát hiện việc chi trả vi phạm điều kiện tại Điều 69, công ty phải thu hồi khoản tiền hoặc tài sản đã trả; cổ đông có nghĩa vụ hoàn trả. Như vậy, thời hạn 06 tháng chỉ là thời hạn thanh toán, không loại trừ trách nhiệm thu hồi nếu việc chi trả không đúng pháp luật.
Thực tiễn cho thấy nhiều công ty cổ phần niêm yết thường công bố ngày đăng ký cuối cùng và ngày thanh toán cổ tức cụ thể trong nghị quyết Đại hội đồng cổ đông. Việc ấn định ngày thanh toán cụ thể phải nằm trong khung 06 tháng nêu trên; nếu vượt quá, nghị quyết có thể bị xem xét về tính hợp pháp và cổ đông có quyền yêu cầu thực hiện đúng thời hạn luật định.
Việc chi trả cổ tức không đúng quy định tại Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020 có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý đối với công ty và người quản lý công ty. Căn cứ khoản 5 Điều 135, cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên. Trường hợp công ty chậm thanh toán, công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cổ đông theo quy định của pháp luật dân sự, đồng thời thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có thể bị xem xét trách nhiệm do không thực hiện đúng nghĩa vụ quản lý.
Trách nhiệm trọng yếu phát sinh khi công ty chi trả cổ tức trong khi không đáp ứng điều kiện chia lợi nhuận quy định tại Điều 69 Luật Doanh nghiệp 2020. Cụ thể, công ty chỉ được chia cổ tức khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, đã trích lập các quỹ theo quy định và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn. Nếu vi phạm, cổ đông phải hoàn trả cho công ty số tiền hoặc tài sản đã nhận, trừ trường hợp cổ đông không biết hoặc không thể biết việc chi trả là trái quy định. Quy định này được củng cố bởi Điều 136 về thu hồi tiền thanh toán cổ phần được mua lại, theo đó người quản lý công ty và cổ đông có liên quan phải liên đới hoàn trả số tiền đã chi trả trái pháp luật.
Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A có lợi nhuận kế toán nhưng chưa trích lập đủ quỹ dự phòng tài chính theo Điều lệ, vẫn ra nghị quyết chia cổ tức bằng tiền mặt. Khi phát sinh khoản nợ đến hạn, công ty không đủ khả năng thanh toán. Trong trường hợp này, cổ đông đã nhận cổ tức phải hoàn trả phần lợi nhuận đã nhận, còn thành viên Hội đồng quản trị biểu quyết thông qua nghị quyết trái pháp luật phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh cho công ty và chủ nợ.
Như vậy, trách nhiệm khi vi phạm nghĩa vụ trả cổ tức bao gồm trách nhiệm hoàn trả của cổ đông, trách nhiệm liên đới của người quản lý và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công ty. Việc tuân thủ nghiêm ngặt Điều 69 và Điều 135 là điều kiện tiên quyết để hạn chế rủi ro pháp lý trong hoạt động phân phối lợi nhuận.
Khoản thu nhập từ cổ tức mà cổ đông nhận được từ công ty cổ phần là thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập. Căn cứ khoản 5 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác. Việc chi trả cổ tức chỉ được thực hiện khi công ty đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020, đồng thời phải tuân thủ nghĩa vụ khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho cổ đông theo pháp luật thuế hiện hành.
Đối với cổ đông là cá nhân, thu nhập từ cổ tức thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất toàn phần 5% trên giá trị cổ tức thực nhận. Công ty cổ phần có trách nhiệm khấu trừ thuế trước khi thanh toán cổ tức cho cổ đông. Ví dụ: Công ty cổ phần A quyết định trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 10% trên mệnh giá cổ phần, tương đương 1.000 đồng cho mỗi cổ phần mệnh giá 10.000 đồng. Cổ đông B sở hữu 10.000 cổ phần sẽ nhận được tổng số tiền cổ tức là 10.000.000 đồng. Công ty A phải khấu trừ 5% thuế thu nhập cá nhân, tương đương 500.000 đồng, và thanh toán cho cổ đông B số tiền thực nhận là 9.500.000 đồng.
Đối với cổ đông là tổ chức, thu nhập từ cổ tức được xác định là thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, pháp luật thuế hiện hành quy định trường hợp tổ chức nhận cổ tức từ công ty con mà tổ chức đó đã góp vốn thành lập thì khoản cổ tức này được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, nhằm tránh tình trạng đánh thuế trùng đối với cùng một khoản lợi nhuận đã chịu thuế tại công ty phát sinh lợi nhuận.
Trường hợp cổ tức được trả bằng cổ phiếu hoặc tài sản khác không phải tiền mặt, giá trị tính thuế được xác định theo giá trị thị trường của cổ phiếu hoặc tài sản tại thời điểm chi trả. Công ty cần lưu ý việc chi trả cổ tức bằng tài sản khác phải tuân thủ quy định tại khoản 3 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020 về việc phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua và chỉ được thực hiện khi công ty đáp ứng đầy đủ điều kiện thanh toán theo quy định. Việc không thực hiện đúng nghĩa vụ khấu trừ thuế có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý của công ty đối với cơ quan thuế, bao gồm tiền chậm nộp và các chế tài xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.