Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020: Chuyển nhượng cổ phần | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020: Chuyển nhượng cổ phần

Doanh nghiệp · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020
  2. Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần
  3. Hạn chế chuyển nhượng đối với cổ đông sáng lập
  4. Thủ tục chuyển nhượng cổ phần
  5. Ghi nhận thay đổi cổ đông trong sổ đăng ký
  6. Lưu ý về thuế khi chuyển nhượng cổ phần

Điều 127. Chuyển nhượng cổ phần 1. Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. 2. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán. Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ ký. Trường hợp giao dịch trên thị trường chứng khoán thì trình tự, thủ tục chuyển nhượng được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán. 3. Trường hợp cổ đông là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó trở thành cổ đông của công ty. 4. Trường hợp cổ đông là cá nhân chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì số cổ phần của cổ đông đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự. 5. Cổ đông có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ cổ phần của mình tại công ty cho cá nhân, tổ chức khác; sử dụng cổ phần để trả nợ. Cá nhân, tổ chức được tặng cho hoặc nhận trả nợ bằng cổ phần sẽ trở thành cổ đông của công ty. 6. Cá nhân, tổ chức nhận cổ phần trong các trường hợp quy định tại Điều này chỉ trở thành cổ đông công ty từ thời điểm các thông tin của họ quy định tại khoản 2 Điều 12

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020

Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về chuyển nhượng cổ phần, gồm ba nội dung chính: hình thức chuyển nhượng, hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, và hiệu lực của việc chuyển nhượng.

Thứ nhất, về hình thức chuyển nhượng. Cổ phần được chuyển nhượng tự do, trừ trường hợp pháp luật hoặc Điều lệ công ty có hạn chế. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán. Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng, giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ ký. Trường hợp giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Thứ hai, về hạn chế chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập. Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác. Việc chuyển nhượng cho người không phải cổ đông sáng lập chỉ được thực hiện nếu được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Khi đó, cổ đông dự định chuyển nhượng không có quyền biểu quyết, còn người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập. Quy định này nhằm bảo đảm cam kết góp vốn và sự ổn định của công ty trong giai đoạn đầu, liên hệ với Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 về cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập.

Thứ ba, về hiệu lực của việc chuyển nhượng. Cổ phần được coi là đã chuyển nhượng khi có đầy đủ thông tin của người nhận chuyển nhượng quy định tại khoản 2 Điều 122 Luật Doanh nghiệp 2020 được ghi vào sổ đăng ký cổ đông. Kể từ thời điểm đó, người nhận chuyển nhượng trở thành cổ đông của công ty với đầy đủ quyền và nghĩa vụ tương ứng.

Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A thành lập tháng 01/2024 với ba cổ đông sáng lập là ông X, bà Y, ông Z. Tháng 6/2024, ông X muốn bán 10% cổ phần cho nhà đầu tư ngoài. Do chưa hết thời hạn 03 năm, việc chuyển nhượng phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận; ông X không được biểu quyết về vấn đề này. Nếu được chấp thuận, nhà đầu tư ngoài đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập và phải được ghi vào sổ đăng ký cổ đông thì việc chuyển nhượng mới có hiệu lực.

2. Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần

Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận quyền tự do chuyển nhượng cổ phần là một trong những nguyên tắc nền tảng của công ty cổ phần. Khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này. Quy định này thể hiện bản chất đối vốn của công ty cổ phần, theo đó tư cách cổ đông không gắn liền với nhân thân của người góp vốn, tạo điều kiện cho dòng vốn lưu thông linh hoạt trên thị trường.

Quyền tự do chuyển nhượng được cụ thể hóa ở nhiều khía cạnh. Thứ nhất, cổ đông có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần cổ phần của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết vốn không được chuyển nhượng theo khoản 3 Điều 116. Thứ hai, việc chuyển nhượng có thể được thực hiện bằng hợp đồng thông thường hoặc qua giao dịch trên thị trường chứng khoán đối với công ty đại chúng. Thứ ba, sau khi chuyển nhượng, thông tin cổ đông phải được cập nhật vào sổ đăng ký cổ đông theo Điều 122, bảo đảm quyền lợi của bên nhận chuyển nhượng được xác lập hợp pháp.

Tuy nhiên, quyền tự do chuyển nhượng không phải là tuyệt đối. Khoản 3 Điều 120 quy định trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập chỉ được tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho cổ đông sáng lập khác; việc chuyển nhượng cho người không phải cổ đông sáng lập phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Ngoài ra, Điều lệ công ty có thể quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần trong các trường hợp cụ thể, nhưng chỉ có hiệu lực khi được ghi rõ trên cổ phiếu.

Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần ABC có ba cổ đông sáng lập là ông X, bà Y và ông Z. Sau 01 năm hoạt động, ông X muốn bán 10% cổ phần cho nhà đầu tư ngoài. Do đang trong thời hạn 03 năm, ông X phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận trước khi thực hiện giao dịch. Nếu Đại hội đồng không thông qua, ông X vẫn có thể chuyển nhượng cho bà Y hoặc ông Z mà không cần chấp thuận. Quy định này cân bằng giữa quyền tự do định đoạt tài sản của cổ đông và sự ổn định cơ cấu cổ đông sáng lập trong giai đoạn đầu hoạt động của doanh nghiệp.

3. Hạn chế chuyển nhượng đối với cổ đông sáng lập

Theo quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác trong giai đoạn này. Việc chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập chỉ được thực hiện khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận bằng nghị quyết.

Quy trình chấp thuận được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 120: cổ đông dự định chuyển nhượng không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng đó; người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Trường hợp cổ đông sáng lập chuyển nhượng toàn bộ cổ phần phổ thông đang sở hữu cho người khác, cổ đông đó đương nhiên không còn là cổ đông sáng lập, nhưng người nhận chuyển nhượng vẫn phải kế thừa các hạn chế chuyển nhượng áp dụng đối với cổ đông sáng lập trong thời hạn còn lại.

Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định nguyên tắc chung về chuyển nhượng cổ phần, trong đó khẳng định cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127. Như vậy, hạn chế chuyển nhượng đối với cổ đông sáng lập là ngoại lệ đặc thù nhằm bảo đảm sự ổn định về cơ cấu cổ đông, năng lực tài chính và cam kết góp vốn của những người đồng sáng lập trong giai đoạn đầu hoạt động của công ty cổ phần.

Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần ABC được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngày 01/01/2024, có ba cổ đông sáng lập là ông X, bà Y và ông Z. Tháng 6/2025, ông X muốn chuyển nhượng 10.000 cổ phần phổ thông cho bà M (không phải cổ đông sáng lập). Do thời hạn 03 năm chưa kết thúc, việc chuyển nhượng chỉ hợp pháp khi được Đại hội đồng cổ đông thông qua bằng nghị quyết; ông X không được tham gia biểu quyết về nội dung này. Nếu nghị quyết được thông qua, bà M trở thành cổ đông sáng lập và tiếp tục chịu hạn chế chuyển nhượng đến hết ngày 31/12/2026.

Việc ghi nhận thay đổi cổ đông sáng lập phải được cập nhật vào sổ đăng ký cổ đông theo Điều 122 Luật Doanh nghiệp 2020, bảo đảm tính minh bạch và giá trị pháp lý của giao dịch chuyển nhượng.

4. Thủ tục chuyển nhượng cổ phần

Thủ tục chuyển nhượng cổ phần được thực hiện theo nguyên tắc tự do chuyển nhượng, trừ các hạn chế luật định. Căn cứ Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ phần được chuyển nhượng theo trình tự sau:

Bước 1: Xác định loại cổ phần và điều kiện chuyển nhượng. Cổ phần phổ thông được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp cổ phần của cổ đông sáng lập trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho người không phải là cổ đông sáng lập khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng theo khoản 3 Điều 116 của Luật này.

Bước 2: Ký kết hợp đồng chuyển nhượng cổ phần. Các bên lập hợp đồng hoặc văn bản xác nhận việc chuyển nhượng, ghi rõ số lượng cổ phần, loại cổ phần, giá chuyển nhượng và phương thức thanh toán. Hợp đồng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.

Bước 3: Ghi nhận vào sổ đăng ký cổ đông. Theo khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020, việc chuyển nhượng chỉ có hiệu lực đối với công ty kể từ thời điểm thông tin của người nhận chuyển nhượng được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông theo quy định tại Điều 122. Công ty có trách nhiệm cập nhật sổ đăng ký cổ đông trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo chuyển nhượng.

Bước 4: Cập nhật thông tin cổ đông tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Nếu việc chuyển nhượng làm thay đổi cổ đông sáng lập hoặc cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài, công ty phải thực hiện thủ tục thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo quy định.

Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần X có ông A là cổ đông sáng lập nắm 15% cổ phần phổ thông. Sau 02 năm hoạt động, ông A muốn chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cho bà B (không phải cổ đông sáng lập). Do chưa hết thời hạn 03 năm, ông A phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi ký hợp đồng, công ty ghi nhận bà B vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm này, bà B chính thức trở thành cổ đông của công ty và có quyền biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông.

5. Ghi nhận thay đổi cổ đông trong sổ đăng ký

Sau khi giao dịch chuyển nhượng cổ phần hoàn tất, việc ghi nhận thay đổi cổ đông trong sổ đăng ký cổ đông là bước pháp lý bắt buộc nhằm xác lập tư cách cổ đông của bên nhận chuyển nhượng đối với công ty. Theo khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ phần được coi là đã chuyển nhượng khi có đầy đủ thông tin của người nhận chuyển nhượng quy định tại khoản 2 Điều 122 được ghi vào sổ đăng ký cổ đông. Như vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với công ty và bên thứ ba không phải là thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng, mà là thời điểm công ty thực hiện ghi sổ.

Khoản 2 Điều 122 quy định sổ đăng ký cổ đông phải bao gồm các nội dung chủ yếu: tên, địa chỉ liên lạc của cổ đông; số lượng cổ phần từng loại của mỗi cổ đông; ngày đăng ký cổ phần. Khi có thay đổi cổ đông, công ty phải cập nhật kịp thời các thông tin này. Trường hợp cổ đông là tổ chức, cần ghi rõ tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính; trường hợp cổ đông là cá nhân, ghi rõ họ tên, số định danh cá nhân, địa chỉ liên lạc.

Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần X có cổ đông A chuyển nhượng 10.000 cổ phần phổ thông cho ông B theo hợp đồng ký ngày 01/3/2025. Ngày 05/3/2025, công ty nhận được văn bản thông báo kèm hợp đồng chuyển nhượng và tiến hành ghi nhận ông B vào sổ đăng ký cổ đông. Kể từ ngày 05/3/2025, ông B chính thức có tư cách cổ đông, được hưởng quyền biểu quyết, nhận cổ tức và các quyền khác theo quy định. Nếu trước thời điểm ghi sổ, công ty đã chốt danh sách cổ đông để trả cổ tức thì ông A vẫn là người nhận cổ tức, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, Điều 120 đặt ra hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty chỉ được ghi nhận cổ đông mới đối với loại cổ phần này khi việc chuyển nhượng đã được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận theo đúng trình tự quy định tại khoản 3 Điều 120. Việc ghi sổ sai đối tượng hoặc ghi sổ khi chưa đủ điều kiện có thể dẫn đến tranh chấp về tư cách cổ đông và trách nhiệm bồi thường của người quản lý công ty.

6. Lưu ý về thuế khi chuyển nhượng cổ phần

Việc chuyển nhượng cổ phần theo Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 không chỉ làm phát sinh hệ quả pháp lý về tư cách cổ đông mà còn kéo theo nghĩa vụ thuế đối với bên chuyển nhượng. Mặc dù Luật Doanh nghiệp không quy định trực tiếp về thuế, Điều 127 đóng vai trò là căn cứ xác lập giao dịch chuyển nhượng hợp pháp, từ đó làm phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp thuế theo pháp luật thuế hiện hành.

Đối với cá nhân chuyển nhượng cổ phần, thu nhập từ hoạt động này thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần, không phân biệt việc chuyển nhượng có phát sinh lãi hay lỗ. Ví dụ, cổ đông A chuyển nhượng 10.000 cổ phần với giá 50.000 đồng/cổ phần, tổng giá trị chuyển nhượng là 500 triệu đồng, thuế thu nhập cá nhân phải nộp là 500.000 đồng. Trường hợp chuyển nhượng không thông qua hệ thống giao dịch chứng khoán của công ty đại chúng, cá nhân phải trực tiếp kê khai và nộp thuế tại cơ quan thuế quản lý.

Đối với tổ chức chuyển nhượng cổ phần, khoản thu nhập này được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất 20% trên phần chênh lệch giữa giá bán và giá vốn. Doanh nghiệp cần lưu ý xác định đúng giá vốn của cổ phần, bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng, để tránh bị truy thu do kê khai sai.

Ngoài ra, việc ghi nhận chính xác thông tin chuyển nhượng trong sổ đăng ký cổ đông theo Điều 122 Luật Doanh nghiệp 2020 là cơ sở quan trọng để xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế và đối tượng chịu thuế. Đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn 03 năm theo Điều 120 chỉ áp dụng đối với cổ đông sáng lập khác khi chưa được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận; khi giao dịch hợp lệ, nghĩa vụ thuế phát sinh như đối với cổ đông thông thường. Bên chuyển nhượng nên chủ động rà soát căn cứ tính thuế, thời hạn kê khai và mức thuế suất áp dụng để bảo đảm tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, tránh rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) - Điều 127 về chuyển nhượng cổ phần
  • Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) - Điều 120 về cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập
  • Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) - Điều 122 về sổ đăng ký cổ đông
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp