Điều 107 và 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Nghĩa vụ cấp dưỡng | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 107 và 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Nghĩa vụ cấp dưỡng

Hôn nhân & Gia đình · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 107 và 110 Luật HNGĐ 2014
  2. Khái niệm nghĩa vụ cấp dưỡng
  3. Cấp dưỡng của cha mẹ đối với con
  4. Cấp dưỡng của con đối với cha mẹ
  5. Mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện
  6. Hậu quả khi không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng 1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. 2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 107 và 110 Luật HNGĐ 2014

Điều 107 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng. Theo đó, cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa vợ và chồng khi ly hôn. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng mà trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật.

Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định cụ thể về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con. Theo đó, cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Ví dụ thực tiễn: sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên hằng tháng theo mức thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định; nếu người đó không tự nguyện thực hiện, bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành khoản cấp dưỡng. Quy định này bảo đảm quyền lợi của con khi cha, mẹ không còn sống chung, phù hợp với nguyên tắc cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con thành niên trong trường hợp con không có khả năng tự nuôi mình.

Bên cạnh đó, Điều 111 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ. Theo đó, con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Quy định này thể hiện tính tương hỗ trong quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, bảo đảm sự chăm sóc, phụng dưỡng lẫn nhau giữa các thành viên gia đình theo truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

2. Khái niệm nghĩa vụ cấp dưỡng

Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ pháp lý của một chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình phải đóng góp tiền hoặc tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho người không có khả năng tự nuôi mình, khi giữa họ có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật. Đây là loại nghĩa vụ mang tính chất tài sản nhưng gắn liền với nhân thân, không thể chuyển giao cho người khác và không phải là quan hệ bồi thường thiệt hại.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không đưa ra định nghĩa trực tiếp về nghĩa vụ cấp dưỡng mà quy định cụ thể tại Điều 107 về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, Điều 110 về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con và Điều 111 về nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ. Theo đó, nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh khi có đủ các điều kiện: giữa các bên tồn tại quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng; bên được cấp dưỡng là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu; bên có nghĩa vụ có khả năng thực hiện việc cấp dưỡng.

Ví dụ thực tiễn: vợ chồng ly hôn, con chưa thành niên sống cùng mẹ. Người cha không trực tiếp nuôi con vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng hằng tháng cho con theo Điều 110, nhằm bảo đảm quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con. Tương tự, con đã thành niên có khả năng kinh tế có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo Điều 111. Nghĩa vụ cấp dưỡng là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ các đối tượng yếu thế trong gia đình, thể hiện nguyên tắc tương trợ, đoàn kết giữa các thành viên theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật này.

3. Cấp dưỡng của cha mẹ đối với con

Cấp dưỡng của cha mẹ đối với con là một trong những nghĩa vụ pháp lý quan trọng được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo khoản 1 Điều 107, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

Điều 110 quy định cụ thể về cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con. Theo đó, cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Quy định này phản ánh nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con, đặc biệt là trẻ em và người không có khả năng tự nuôi sống bản thân.

Ví dụ thực tiễn: Sau khi ly hôn, con chung sống với mẹ. Người cha không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng hằng tháng cho con đến khi con đủ 18 tuổi. Mức cấp dưỡng do hai bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

Trường hợp con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình thì cha, mẹ vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng. Nghĩa vụ này chấm dứt theo quy định tại Điều 118 khi người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi mình, hoặc được nhận làm con nuôi, hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Việc cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn thể hiện đạo đức, truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, bảo đảm sự phát triển toàn diện của con về thể chất, trí tuệ và tinh thần.

4. Cấp dưỡng của con đối với cha mẹ

1. Căn cứ pháp lý

Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ được quy định tại Điều 111 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Theo đó, con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc chung tại Điều 107: nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình theo quy định của pháp luật, không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Điều kiện phát sinh nghĩa vụ

Để phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ, cần hội tụ đủ ba điều kiện: (i) con đã thành niên, tức từ đủ 18 tuổi trở lên; (ii) con không sống chung với cha mẹ; (iii) cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Trường hợp con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng vẫn sống chung với cha mẹ thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật này, bởi khi đó việc chăm sóc, nuôi dưỡng được thực hiện trực tiếp trong đời sống chung.

3. Phân tích và ví dụ thực tiễn

Điều 111 đặt ra nghĩa vụ mang tính hai chiều, tương ứng với nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con quy định tại Điều 110. Nếu cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, thì ngược lại, con đã thành niên phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu, mất sức lao động, không còn nguồn thu nhập hoặc tài sản bảo đảm cuộc sống.

Ví dụ: Ông A 70 tuổi, mất khả năng lao động, không có lương hưu, không có tài sản riêng. Con trai ông là anh B 35 tuổi, đã lập gia đình và sống riêng, có thu nhập ổn định. Trong trường hợp này, anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng hằng tháng cho ông A theo quy định tại Điều 111. Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của anh B và nhu cầu thiết yếu của ông A; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116 của Luật này.

4. Ý nghĩa pháp lý

Quy định tại Điều 111 thể hiện đạo lý truyền thống “trẻ cậy cha, già cậy con”, đồng thời là sự cụ thể hóa nguyên tắc các thành viên gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo Điều 2 của Luật. Nghĩa vụ này mang tính bắt buộc, được pháp luật bảo đảm thực hiện, góp phần bảo vệ người cao tuổi – nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội.

5. Mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện

Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và được cụ thể hóa trong các trường hợp cấp dưỡng quy định tại Điều 107, Điều 110 và Điều 111 của Luật này.

Pháp luật không ấn định một mức cấp dưỡng tối thiểu hay tối đa bằng con số tuyệt đối, mà xác định hai căn cứ định lượng mang tính nguyên tắc. Thứ nhất là thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, bao gồm tiền lương, tiền công, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và các nguồn thu nhập hợp pháp khác. Thứ hai là nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, gồm chi phí ăn, ở, mặc, học tập, khám chữa bệnh và sinh hoạt thường ngày phù hợp với độ tuổi, tình trạng sức khỏe và điều kiện sống. Ví dụ, khi cha mẹ ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên theo Điều 110 được xác định dựa trên thu nhập hằng tháng của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con và nhu cầu học tập, sinh hoạt của con; mức cấp dưỡng thường được tính theo tỷ lệ phần trăm thu nhập hoặc một khoản tiền cố định hằng tháng do các bên thỏa thuận.

Về phương thức thực hiện, khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho phép cấp dưỡng định kỳ hằng tháng, hằng quý, nửa năm, hằng năm hoặc một lần. Việc lựa chọn phương thức phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định. Cấp dưỡng một lần thường được áp dụng khi người có nghĩa vụ có khả năng thanh toán toàn bộ khoản cấp dưỡng trong một lần, chẳng hạn cha hoặc mẹ sắp định cư ở nước ngoài và muốn hoàn thành nghĩa vụ cấp dưỡng cho con trước khi xuất cảnh. Ngược lại, cấp dưỡng định kỳ phù hợp với người có thu nhập ổn định hằng tháng như người lao động hưởng lương.

Trong mọi trường hợp, việc xác định mức và phương thức cấp dưỡng phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của người được cấp dưỡng, đặc biệt là trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật theo nguyên tắc tại khoản 4 Điều 2 của Luật này. Khi điều kiện kinh tế của các bên thay đổi, mức cấp dưỡng có thể được điều chỉnh theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

6. Hậu quả khi không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng không tự nguyện thực hiện, pháp luật quy định các chế tài buộc thi hành và xử lý vi phạm nhằm bảo vệ quyền lợi của người được cấp dưỡng. Theo khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng không thể chuyển giao cho người khác; theo khoản 2 Điều 107, trong trường hợp người có nghĩa vụ trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này. Đây là cơ sở pháp lý trực tiếp để người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ hợp pháp của họ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp.

Về chế tài dân sự, người có quyền yêu cầu cấp dưỡng có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu buộc thực hiện nghĩa vụ. Bản án, quyết định của Tòa án về cấp dưỡng có hiệu lực pháp luật sẽ được bảo đảm thi hành theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế như khấu trừ thu nhập, phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản để bảo đảm nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện. Ví dụ, cha không tự nguyện cấp dưỡng cho con sau ly hôn, mẹ của con khởi kiện; Tòa án ra quyết định buộc cha phải cấp dưỡng hằng tháng, nếu cha vẫn không thực hiện thì cơ quan thi hành án có thể khấu trừ trực tiếp từ tiền lương của cha để chuyển cho con.

Về chế tài hành chính, hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Về chế tài hình sự, người có nghĩa vụ cấp dưỡng mà có khả năng thực hiện nhưng cố ý không thực hiện, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, việc không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng không chỉ dẫn đến hậu quả bị cưỡng chế thi hành mà còn có thể phát sinh trách nhiệm hành chính, hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Quy định này thể hiện sự bảo vệ nghiêm khắc của pháp luật đối với quyền được cấp dưỡng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự và cha mẹ không có khả năng lao động theo Điều 110, Điều 111 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 107 về nghĩa vụ cấp dưỡng
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 110 về cấp dưỡng của cha mẹ đối với con
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 111 về cấp dưỡng của con đối với cha mẹ
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp