Điều 60. Trách nhiệm của người sử dụng lao động về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề 1. Người sử dụng lao động xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, phát triển kỹ năng nghề cho người lao động đang làm việc cho mình; đào tạo cho người lao động trước khi chuyển làm nghề khác cho mình. 2. Hằng năm, người sử dụng lao động thông báo kết quả đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Bảo hiểm xã hội một lần là chế độ cho phép người lao động sau khi chấm dứt tham gia bảo hiểm xã hội được nhận toàn bộ số tiền đã đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội thay vì tiếp tục bảo lưu để hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng. Đây là quyền lựa chọn của người lao động, không phải nghĩa vụ bắt buộc.
Theo quy định tại Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người lao động được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp: đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng chưa đủ số năm đóng bảo hiểm xã hội; ra nước ngoài để định cư; mắc bệnh nguy hiểm đến tính mạng; hoặc sau một năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục đóng. Nghị định 115/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết về đối tượng và điều kiện hưởng, trong khi Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định cụ thể về hồ sơ, mức hưởng và trình tự giải quyết.
Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng, cụ thể: mỗi năm đóng trước năm 2014 được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội; mỗi năm đóng từ năm 2014 trở đi được tính bằng 2 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Ví dụ thực tiễn: chị A đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được 5 năm (từ 2019 đến 2023) với mức bình quân tiền lương tháng đóng là 10 triệu đồng. Năm 2024, chị A nghỉ việc và sau 12 tháng không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội, chị có quyền nộp hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Mức hưởng của chị được tính bằng 5 năm × 2 tháng × 10 triệu đồng = 100 triệu đồng.
Người lao động cần cân nhắc kỹ giữa việc nhận bảo hiểm xã hội một lần và bảo lưu thời gian đóng để hưởng lương hưu, vì nhận một lần đồng nghĩa với việc mất cơ hội được hưởng chế độ hưu trí và bảo hiểm y tế miễn phí khi về già.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 219 Bộ luật Lao động 2019), người lao động được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Ví dụ thực tiễn: chị A đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được 8 năm, sau đó nghỉ việc và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội. Sau 12 tháng kể từ ngày nghỉ việc, chị A đủ điều kiện nộp hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo điểm b khoản 1 Điều 60 nêu trên.
Về mức hưởng, khoản 2 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần tính theo số năm đã đóng, cứ mỗi năm được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với thời gian đóng trước năm 2014 và bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với thời gian đóng từ năm 2014 trở đi. Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Thủ tục, hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội một lần được hướng dẫn chi tiết tại Điều 109 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Điều 20 Quyết định 636/QĐ-BHXH năm 2016 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Người lao động cần lưu ý cân nhắc kỹ trước khi quyết định hưởng bảo hiểm xã hội một lần vì khi đã nhận một lần sẽ không còn thời gian đóng để cộng dồn hưởng lương hưu sau này.
Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cụ thể theo khoản 2 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 (số 58/2014/QH13) và khoản 2 Điều 19 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH. Mức hưởng được xác định bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho mỗi năm đóng trước năm 2014; bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho mỗi năm đóng từ năm 2014 trở đi. Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm thì mức hưởng bằng số tiền đã đóng, tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính theo quy định tại Điều 62 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Điều 20 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH. Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở tiền lương tháng đã đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian tham gia. Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở bình quân tiền lương tháng đã đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian tham gia.
Ví dụ thực tiễn: Người lao động A đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2016, tổng thời gian đóng là 05 năm. Trong đó, thời gian đóng trước năm 2014 là 02 năm (2012, 2013), thời gian đóng từ năm 2014 trở đi là 03 năm (2014, 2015, 2016). Giả sử mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động A là 8.000.000 đồng. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động A được tính như sau: 02 năm × 1,5 tháng × 8.000.000 đồng = 24.000.000 đồng; 03 năm × 02 tháng × 8.000.000 đồng = 48.000.000 đồng. Tổng mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần là 72.000.000 đồng.
Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm, ví dụ đóng được 08 tháng với mức bình quân tiền lương tháng đóng là 6.000.000 đồng, mức hưởng bằng số tiền đã đóng nhưng tối đa không quá 12.000.000 đồng (02 tháng × 6.000.000 đồng).
Lưu ý, mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 77 Luật Bảo hiểm xã hội 2014. Người lao động cần đối chiếu kỹ thời gian tham gia và mức lương làm căn cứ đóng để xác định chính xác mức hưởng của mình.
Theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Điều 109 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (có hiệu lực từ 01/7/2025), người lao động đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần phải chuẩn bị hồ sơ theo quy định tại Điều 6 Quyết định 166/QĐ-BHXH năm 2019 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, gồm: Sổ bảo hiểm xã hội (bản chính); Đơn đề nghị theo Mẫu số 14-HSB; Giấy tờ chứng minh thuộc một trong các trường hợp hưởng (quyết định nghỉ việc, giấy ra viện, quyết định phục viên, xuất cảnh định cư, giấy chứng nhận mắc bệnh nguy hiểm). Trường hợp ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ phải có giấy ủy quyền hợp lệ.
Về thủ tục, người lao động nộp hồ sơ tại cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện nơi cư trú hoặc nơi đang tham gia bảo hiểm xã hội. Thời hạn giải quyết tối đa là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp cần xác minh thêm thì không quá 10 ngày làm việc. Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm chi trả tiền một lần cho người lao động trong thời hạn nêu trên; nếu quá hạn phải trả thêm lãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
Ví dụ thực tiễn: Anh A làm việc tại doanh nghiệp ở Bình Dương, đóng bảo hiểm xã hội được 7 năm, sau khi nghỉ việc về quê ở Nghệ An. Anh A nộp hồ sơ tại bảo hiểm xã hội huyện nơi cư trú ở Nghệ An, không cần quay lại Bình Dương. Cơ quan bảo hiểm xã hội huyện tiếp nhận, đối chiếu dữ liệu trên hệ thống và giải quyết trong 05 ngày làm việc, chuyển tiền qua tài khoản cá nhân của anh A. Trường hợp anh A ủy quyền cho người thân nộp thay, cần có giấy ủy quyền có công chứng hoặc chứng thực theo quy định.
Người lao động cần lưu ý kiểm tra kỹ thông tin trên sổ bảo hiểm xã hội trước khi nộp hồ sơ; nếu có sai lệch về họ tên, ngày sinh, quá trình đóng phải yêu cầu điều chỉnh, bổ sung trước khi giải quyết hưởng một lần để tránh kéo dài thời gian xử lý.
Việc lựa chọn giữa nhận bảo hiểm xã hội một lần hay bảo lưu thời gian đóng là quyết định quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi an sinh lâu dài của người lao động. Theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người lao động chỉ được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp: đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng; ra nước ngoài định cư; mắc bệnh nguy hiểm đến tính mạng; hoặc sau một năm nghỉ việc không tiếp tục đóng và chưa đủ 20 năm đóng. Như vậy, pháp luật không khuyến khích việc rút một lần mà đặt ra điều kiện chặt chẽ nhằm hướng người lao động đến mục tiêu bảo đảm an sinh khi về già.
Về bản chất, nhận bảo hiểm xã hội một lần mang lại lợi ích tài chính trước mắt nhưng gây thiệt thòi lớn về lâu dài. Khi rút một lần, người lao động chỉ nhận được phần đóng của mình cộng với một phần từ người sử dụng lao động, trong khi toàn bộ thời gian đóng bị xóa bỏ, mất cơ hội tích lũy để hưởng lương hưu hằng tháng và bảo hiểm y tế miễn phí khi hết tuổi lao động. Ngược lại, bảo lưu thời gian đóng cho phép cộng dồn quá trình tham gia, bảo đảm điều kiện về số năm đóng tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo quy định tại Nghị định 115/2015/NĐ-CP và Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH.
Ví dụ thực tiễn: một lao động 30 tuổi đã đóng bảo hiểm xã hội được 8 năm, nếu rút một lần sẽ nhận khoản tiền tương ứng 8 năm đóng nhưng toàn bộ thời gian này không còn giá trị. Nếu bảo lưu và tiếp tục tham gia khi có việc làm mới, người này chỉ cần đóng thêm 12 năm nữa là đủ 20 năm để đủ điều kiện hưởng lương hưu khi đến tuổi quy định. Trong trường hợp gặp khó khăn tài chính cấp bách hoặc thuộc diện ra nước ngoài định cư, mắc bệnh hiểm nghèo, việc rút một lần là cần thiết và đúng quy định. Tuy nhiên, với đa số người lao động còn khả năng tiếp tục làm việc, bảo lưu là lựa chọn tối ưu vì bảo đảm quyền lợi hưu trí bền vững, tránh thiệt thòi không thể khôi phục sau khi đã nhận một lần.
Việc quyết định nhận bảo hiểm xã hội một lần cần được cân nhắc thận trọng vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi an sinh lâu dài của người lao động. Theo quy định tại Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người lao động chỉ được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp luật định, đồng thời phải chấp nhận chấm dứt toàn bộ thời gian đã tham gia bảo hiểm xã hội trước đó.
Thứ nhất, mất quyền hưởng lương hưu hằng tháng. Khi nhận bảo hiểm xã hội một lần, toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội bị xóa bỏ, người lao động không còn cơ hội tích lũy để đủ điều kiện hưởng lương hưu khi hết tuổi lao động. Ví dụ, một lao động đã đóng bảo hiểm xã hội 15 năm, nếu rút một lần thì sau này muốn hưởng lương hưu phải tham gia lại từ đầu, gây thiệt thòi lớn về thời gian và quyền lợi.
Thứ hai, thiệt hại về giá trị khoản hưởng. Số tiền bảo hiểm xã hội một lần được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội và thời gian đóng, nhưng không bao gồm phần đóng góp của người sử dụng lao động vào quỹ hưu trí, tử tuất. Theo hướng dẫn tại Nghị định 115/2015/NĐ-CP và Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, mức hưởng một lần thường thấp hơn đáng kể so với tổng giá trị tích lũy nếu tiếp tục tham gia để hưởng chế độ hưu trí.
Thứ ba, mất quyền lợi bảo hiểm y tế và tử tuất. Người đang hưởng lương hưu được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và thân nhân được hưởng chế độ tử tuất khi qua đời. Nếu nhận bảo hiểm xã hội một lần, các quyền lợi này không còn.
Do đó, người lao động chỉ nên lựa chọn nhận bảo hiểm xã hội một lần khi thực sự cần thiết về tài chính trước mắt và đã xác định không còn nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội trong tương lai.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.