Điều 12. Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hợp đồng bảo hiểm thương mại là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận. Đây là loại hợp đồng mang tính chất đền bù rủi ro, được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, có hiệu lực từ ngày 01/01/2023, thay thế Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019).
Về bản chất pháp lý, hợp đồng bảo hiểm thương mại là hợp đồng song vụ, có đền bù và mang tính may rủi. Quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh đồng thời: bên mua bảo hiểm phải đóng phí đầy đủ, đúng hạn; doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ quy tắc, điều khoản bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm và thực hiện trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Các quy định về nội dung, hình thức, hiệu lực của hợp đồng được ghi nhận tại các điều từ Điều 12 đến Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022; nghĩa vụ cung cấp thông tin, đóng phí, trả tiền bảo hiểm được quy định cụ thể tại các điều từ Điều 18 đến Điều 22 của Luật này.
Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp A ký hợp đồng bảo hiểm cháy nổ bắt buộc với công ty bảo hiểm B cho nhà xưởng sản xuất. Khi xảy ra hỏa hoạn thuộc phạm vi bảo hiểm, B có nghĩa vụ bồi thường theo mức miễn thường và hạn mức trách nhiệm đã thỏa thuận. Ngược lại, nếu A kê khai sai tình trạng rủi ro nhằm hưởng lợi bảo hiểm, B có quyền từ chối bồi thường theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực.
Khi phát sinh tranh chấp từ hợp đồng bảo hiểm thương mại, thời hiệu khởi kiện được xác định theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 03 năm kể từ thời điểm quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra một định nghĩa khép kín về “bảo hiểm thương mại”, mà tiếp cận thông qua phạm vi điều chỉnh của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 và tính chất hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm. Trên nền tảng đó, các loại hình bảo hiểm thương mại được phân định chủ yếu dựa trên đối tượng được bảo hiểm và tính chất của rủi ro được chuyển giao.
Nhóm thứ nhất là bảo hiểm nhân thọ, lấy đối tượng là tuổi thọ, tính mạng và sức khỏe của con người trong một khoảng thời gian xác định hoặc không xác định. Nhóm này bao gồm bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm sức khỏe. Ví dụ, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp vừa chi trả khi người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn hợp đồng, vừa chi trả khi người đó còn sống đến thời điểm đáo hạn, thể hiện rõ tính chất kết hợp giữa bảo vệ rủi ro và tích lũy tài chính.
Nhóm thứ hai là bảo hiểm phi nhân thọ, bao gồm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc nhóm nhân thọ. Bảo hiểm tài sản bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trước rủi ro tổn thất vật chất đối với tài sản như nhà xưởng, hàng hóa, phương tiện vận tải. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bảo hiểm cho trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh theo quy định của pháp luật dân sự, điển hình là bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba. Ngoài ra còn có bảo hiểm sức khỏe phi nhân thọ, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không và bảo hiểm cháy, nổ theo quy định riêng.
Việc phân loại này có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong xác định quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều 12 đến Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, cũng như trong xác định thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 khi phát sinh tranh chấp.
Trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm không chỉ có quyền yêu cầu bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm mà còn phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc. Việc vi phạm các nghĩa vụ này có thể dẫn đến hậu quả bất lợi, thậm chí mất quyền được bồi thường.
Thứ nhất, nghĩa vụ kê khai trung thực và cung cấp thông tin. Khi giao kết hợp đồng, bên mua bảo hiểm phải kê khai đầy đủ, trung thực mọi thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm mà mình biết hoặc buộc phải biết, theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm. Nếu cố ý kê khai sai hoặc che giấu thông tin nhằm hưởng quyền lợi bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc từ chối bồi thường khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Ví dụ: chủ xe khai báo xe chỉ dùng cho mục đích cá nhân nhưng thực tế sử dụng để chở khách thương mại; khi xảy ra tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm có căn cứ từ chối chi trả.
Thứ hai, nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn. Đây là nghĩa vụ cơ bản, mang tính đối ứng với trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Việc chậm đóng phí có thể dẫn đến hậu quả hợp đồng bị tạm đình chỉ hoặc chấm dứt hiệu lực, tùy theo thỏa thuận và quy định pháp luật.
Thứ ba, nghĩa vụ thông báo khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và áp dụng biện pháp hạn chế tổn thất. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, bên mua bảo hiểm phải thông báo kịp thời cho doanh nghiệp bảo hiểm trong thời hạn thỏa thuận, đồng thời thực hiện mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Nếu bên mua bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ này mà gây thiệt hại tăng thêm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền giảm trừ hoặc từ chối phần bồi thường tương ứng.
Các nghĩa vụ nêu trên được quy định tại các điều khoản về hợp đồng bảo hiểm và nghĩa vụ của các bên trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022. Việc tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ là điều kiện tiên quyết để bên mua bảo hiểm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình khi phát sinh tranh chấp.
Trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm giữ vai trò là bên nhận phí bảo hiểm và cam kết chi trả quyền lợi bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Theo quy định tại Điều 16 và Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm được xác lập trên nguyên tắc trung thực tuyệt đối và cân bằng lợi ích giữa các bên.
Thứ nhất, nghĩa vụ cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm và giải thích rõ điều khoản hợp đồng. Khi giao kết, doanh nghiệp bảo hiểm phải cung cấp đầy đủ thông tin về phạm vi bảo hiểm, điều khoản loại trừ, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm. Việc che giấu hoặc giải thích không rõ ràng các điều khoản loại trừ có thể dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho doanh nghiệp khi xảy ra tranh chấp.
Thứ hai, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường đúng hạn. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định pháp luật. Trường hợp chậm trả, doanh nghiệp phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022. Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp bảo hiểm chậm chi trả quyền lợi bảo hiểm nhân thọ sau 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ sẽ phát sinh nghĩa vụ trả lãi chậm trả.
Thứ ba, nghĩa vụ giải quyết khiếu nại, bồi thường minh bạch. Doanh nghiệp bảo hiểm phải tiếp nhận, thẩm định hồ sơ yêu cầu bồi thường một cách khách quan, không được tự ý viện dẫn điều khoản loại trừ khi không có căn cứ xác đáng. Việc từ chối bồi thường phải được thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do.
Vi phạm các nghĩa vụ nêu trên là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp bảo hiểm. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng bảo hiểm được xác định theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 03 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm thương mại phát sinh chủ yếu từ ba nhóm nguyên nhân: tranh chấp về phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, tranh chấp về nghĩa vụ cung cấp thông tin, và tranh chấp về nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.
Thứ nhất, tranh chấp về phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm thường cho rằng sự kiện bảo hiểm đã xảy ra thuộc phạm vi được bảo hiểm, trong khi doanh nghiệp bảo hiểm viện dẫn điều khoản loại trừ trách nhiệm. Ví dụ: hợp đồng bảo hiểm cháy nổ quy định loại trừ thiệt hại do động đất gây ra; khi xảy ra cháy do chập điện sau động đất, hai bên tranh cãi về mối quan hệ nhân quả giữa động đất và thiệt hại. Căn cứ giải quyết là Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 về nội dung hợp đồng bảo hiểm và nguyên tắc giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm khi điều khoản không rõ ràng.
Thứ hai, tranh chấp về nghĩa vụ cung cấp thông tin. Theo Điều 18 và Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ giải thích rõ điều kiện, điều khoản bảo hiểm. Tranh chấp thường phát sinh khi bên mua bảo hiểm khai báo không đầy đủ tình trạng sức khỏe hoặc tình trạng tài sản, dẫn đến doanh nghiệp bảo hiểm từ chối bồi thường. Ví dụ: người mua bảo hiểm nhân thọ không khai báo tiền sử bệnh tim mạch; khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm từ chối chi trả với lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin.
Thứ ba, tranh chấp về nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 quy định doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm trong thời hạn thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Tranh chấp phát sinh khi doanh nghiệp bảo hiểm chậm trả, trả không đầy đủ hoặc yêu cầu bổ sung hồ sơ không hợp lý nhằm kéo dài thời gian.
Cách giải quyết: trước hết, các bên thương lượng trên cơ sở hợp đồng và quy định pháp luật; nếu không đạt được thỏa thuận, có thể yêu cầu hòa giải thương mại hoặc khởi kiện tại Tòa án. Lưu ý thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng bảo hiểm là 03 năm kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015. Việc thu thập đầy đủ chứng cứ về hồ sơ yêu cầu bồi thường, biên bản giám định, văn bản từ chối chi trả là yếu tố then chốt bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Trong tranh chấp hợp đồng bảo hiểm thương mại, thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.” Hợp đồng bảo hiểm thương mại được điều chỉnh bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022; tuy nhiên, Luật này không quy định thời hiệu khởi kiện riêng cho tranh chấp hợp đồng bảo hiểm. Do đó, thời hiệu 03 năm theo Bộ luật Dân sự năm 2015 được áp dụng chung.
Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là mốc mà bên bị vi phạm nhận thức được quyền lợi của mình bị xâm phạm. Trong thực tiễn, mốc này thường được xác định là ngày doanh nghiệp bảo hiểm từ chối bồi thường bằng văn bản, hoặc ngày hết hạn thanh toán theo thỏa thuận mà doanh nghiệp bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ: bên mua bảo hiểm yêu cầu bồi thường tổn thất, doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản từ chối ngày 01/3/2024; thời hiệu khởi kiện kết thúc vào ngày 01/3/2027. Nếu quá thời hạn này mà không có sự kiện làm gián đoạn hoặc bắt đầu lại thời hiệu theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện.
Cần lưu ý phân biệt thời hiệu khởi kiện với thời hạn yêu cầu bồi thường theo hợp đồng. Khoản 1 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 quy định thời hạn yêu cầu bồi thường là 01 năm kể từ thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Việc bên mua bảo hiểm không yêu cầu bồi thường trong thời hạn này có thể dẫn đến mất quyền yêu cầu, nhưng không đồng nghĩa với việc hết thời hiệu khởi kiện. Ngược lại, nếu đã yêu cầu bồi thường đúng hạn nhưng bị từ chối, bên mua bảo hiểm vẫn có 03 năm để khởi kiện kể từ ngày nhận được quyết định từ chối.
Như vậy, để bảo vệ quyền lợi, các bên trong tranh chấp hợp đồng bảo hiểm thương mại cần theo dõi chặt chẽ hai mốc thời gian: thời hạn yêu cầu bồi thường theo Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 và thời hiệu khởi kiện 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc bỏ lỡ một trong hai mốc này đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi, làm mất cơ hội yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.