Điều 405. Hợp đồng theo mẫu 1. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra. Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng. Trình tự, thể thức công khai hợp đồng theo mẫu thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó. 3. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 405 BLDS 2015 quy định hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu do bên đề nghị đưa ra. Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó. Quy định này nhằm bảo vệ bên yếu thế trong giao dịch, buộc bên soạn thảo hợp đồng phải minh bạch, rõ ràng ngay từ khâu xây dựng điều khoản.
Điều 406 BLDS 2015 quy định điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết thì chấp nhận toàn bộ nội dung theo điều kiện giao dịch chung đó. Trường hợp điều kiện giao dịch chung có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Ví dụ thực tiễn: hợp đồng mua bán điện, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông thường do bên cung cấp soạn sẵn theo mẫu; khách hàng chỉ có quyền chấp nhận hoặc từ chối toàn bộ mà không được đàm phán từng điều khoản. Nếu trong hợp đồng bảo hiểm có điều khoản loại trừ trách nhiệm bồi thường không rõ ràng, khi xảy ra tranh chấp, tòa án sẽ giải thích theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm theo khoản 2 Điều 405.
Về phụ lục hợp đồng, Điều 407 BLDS 2015 quy định phụ lục là một bộ phận của hợp đồng, có hiệu lực như hợp đồng; nội dung phụ lục không được trái với nội dung của hợp đồng. Trường hợp phụ lục có điều khoản trái với nội dung hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này bảo đảm tính thống nhất giữa hợp đồng chính và phụ lục, tránh tình trạng phụ lục làm thay đổi bản chất thỏa thuận ban đầu của các bên.
Hợp đồng theo mẫu là loại hợp đồng do một bên đưa ra theo mẫu đã được soạn sẵn, bên còn lại chỉ có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận mà không có khả năng thương lượng, sửa đổi các điều khoản. Khái niệm này được quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự 2015: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu do bên đề nghị đưa ra.”
Đặc trưng cơ bản của hợp đồng theo mẫu là tính chất “áp đặt một chiều” về mặt nội dung. Bên soạn thảo mẫu thường là tổ chức, doanh nghiệp có lợi thế về thông tin, kinh nghiệm và vị thế thương lượng; bên còn lại là người tiêu dùng hoặc khách hàng cá nhân ở vị thế yếu hơn. Vì vậy, pháp luật đặt ra cơ chế kiểm soát riêng đối với loại hợp đồng này nhằm bảo vệ bên yếu thế, bảo đảm sự công bằng trong giao dịch.
Mối liên hệ giữa hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung được thể hiện tại Điều 406 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng. Khi các điều kiện giao dịch chung được đưa vào hợp đồng theo mẫu, chúng trở thành nội dung của hợp đồng và chịu sự điều chỉnh chung về hợp đồng theo mẫu. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản đó không có hiệu lực, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Ví dụ thực tiễn phổ biến là hợp đồng mua bán điện, hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận chuyển hành khách. Khi khách hàng ký hợp đồng mở tài khoản ngân hàng hoặc đăng ký dịch vụ internet, họ chỉ có quyền đồng ý hoặc từ chối toàn bộ các điều khoản do nhà cung cấp soạn sẵn, không thể yêu cầu sửa đổi từng điều khoản riêng lẻ.
Về phụ lục hợp đồng, Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015 quy định phụ lục là một bộ phận của hợp đồng, dùng để quy định chi tiết một số điều khoản hoặc sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Trong thực tế, hợp đồng theo mẫu thường kèm theo phụ lục để ghi nhận các thỏa thuận riêng của từng khách hàng, như mức giá cụ thể, thời hạn cung cấp dịch vụ, thông tin cá nhân. Phụ lục có hiệu lực như hợp đồng và phải phù hợp với nội dung của hợp đồng chính; trường hợp phụ lục có điều khoản trái với hợp đồng thì điều khoản đó không có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên đề nghị chấp nhận giao kết thì chấp nhận toàn bộ các điều khoản này. Khái niệm này được ghi nhận tại Điều 406 Bộ luật Dân sự 2015, có mối liên hệ mật thiết với chế định hợp đồng theo mẫu quy định tại Điều 405.
Về bản chất, điều kiện giao dịch chung là công cụ pháp lý để bên soạn thảo chuẩn hóa quy trình giao kết, giảm chi phí đàm phán và bảo đảm tính thống nhất trong hàng loạt giao dịch cùng loại. Tuy nhiên, do được đơn phương công bố, các điều kiện này tiềm ẩn nguy cơ tạo ra sự mất cân bằng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Vì vậy, khoản 2 Điều 406 đặt ra yêu cầu: điều kiện giao dịch chung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên; trường hợp có điều khoản miễn trừ trách nhiệm của bên công bố, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản đó không có hiệu lực, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Ví dụ thực tiễn: hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông thường có điều khoản "nhà cung cấp được đơn phương thay đổi giá cước và chỉ cần thông báo trên website". Điều khoản này loại bỏ quyền thỏa thuận giá của người tiêu dùng, có thể bị coi là vô hiệu theo khoản 2 Điều 406 nếu không thuộc trường hợp luật chuyên ngành cho phép. Tương tự, điều khoản "khách hàng mất toàn bộ tiền đặt cọc trong mọi trường hợp hủy hợp đồng" trong hợp đồng mua bán bất động sản cũng có thể bị tuyên vô hiệu do tăng trách nhiệm bất hợp lý cho bên yếu thế.
Phân biệt với hợp đồng theo mẫu tại Điều 405: hợp đồng theo mẫu là văn bản hợp đồng hoàn chỉnh do một bên soạn sẵn, còn điều kiện giao dịch chung là tập hợp các điều khoản riêng lẻ được công bố công khai. Một hợp đồng theo mẫu có thể dẫn chiếu đến điều kiện giao dịch chung; khi đó, bên soạn thảo phải bảo đảm bên kia có cơ hội tiếp cận và biết rõ nội dung các điều kiện này trước khi giao kết. Việc viện dẫn điều kiện giao dịch chung không làm mất đi quyền yêu cầu tuyên bố điều khoản bất bình đẳng vô hiệu theo khoản 2 Điều 406.
Như vậy, điều kiện giao dịch chung là chế định cân bằng giữa hiệu quả giao dịch và bảo vệ bên yếu thế, đòi hỏi bên công bố phải tuân thủ nguyên tắc thiện chí, trung thực quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.
Hợp đồng theo mẫu chỉ phát sinh hiệu lực ràng buộc các bên khi đáp ứng đầy đủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, đồng thời tuân thủ các quy định riêng tại Điều 405 và Điều 406 của Bộ luật này. Theo khoản 2 Điều 405, hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng; trình tự, thể thức giao kết phải tạo điều kiện cho bên được đề nghị tìm hiểu toàn diện nội dung trước khi xác lập giao dịch.
Điểm đặc thù về hiệu lực của hợp đồng theo mẫu thể hiện ở cơ chế kiểm soát điều khoản bất lợi. Khoản 2 Điều 406 quy định: trong trường hợp điều kiện giao dịch chung có nội dung miễn trách nhiệm của bên đưa ra, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì nội dung này không đương nhiên có hiệu lực. Tòa án có thẩm quyền tuyên bố điều khoản đó vô hiệu khi việc áp dụng gây bất lợi bất hợp lý cho bên được đề nghị. Như vậy, hiệu lực của hợp đồng theo mẫu không chỉ phụ thuộc vào sự thỏa thuận hình thức mà còn chịu sự giám sát về tính công bằng nội dung.
Ví dụ thực tiễn: hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông theo mẫu có điều khoản loại trừ toàn bộ trách nhiệm bồi thường của nhà cung cấp khi gián đoạn dịch vụ. Nếu điều khoản này không được công khai rõ ràng hoặc triệt tiêu quyền lợi chính đáng của người sử dụng, Tòa án có thể tuyên bố điều khoản vô hiệu theo khoản 2 Điều 406, trong khi các phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực theo nguyên tắc vô hiệu từng phần quy định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự 2015.
Ngoài ra, theo Điều 407, phụ lục hợp đồng là bộ phận không tách rời của hợp đồng theo mẫu. Phụ lục chỉ có hiệu lực khi nội dung không trái với hợp đồng chính; trường hợp phụ lục có điều khoản khác với hợp đồng về cùng một vấn đề, cần xác định rõ thứ tự ưu tiên áp dụng để tránh tranh chấp về hiệu lực giữa các tài liệu cấu thành giao dịch.
Phụ lục hợp đồng là văn bản kèm theo hợp đồng, quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Theo Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015, phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng; nội dung phụ lục không được trái với nội dung của hợp đồng. Trường hợp phụ lục có điều khoản trái với nội dung hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản khác với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản trong hợp đồng đã được sửa đổi.
Phụ lục hợp đồng thường được sử dụng để bổ sung, điều chỉnh các nội dung như giá, số lượng, tiến độ thanh toán, phạm vi công việc, thông số kỹ thuật mà không cần ký lại toàn bộ hợp đồng. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên ký phụ lục điều chỉnh đơn giá hoặc thay đổi thời hạn giao hàng; trong hợp đồng lao động, phụ lục được dùng để thay đổi mức lương hoặc chức danh công việc.
Về hình thức, phụ lục hợp đồng phải được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên và phải ghi rõ phụ lục thuộc hợp đồng nào, số hiệu, ngày ký của hợp đồng chính. Việc viện dẫn rõ ràng giúp xác định phạm vi hiệu lực và tránh tranh chấp về mối liên hệ giữa phụ lục và hợp đồng chính.
Cần phân biệt phụ lục hợp đồng với hợp đồng theo mẫu (Điều 405) và điều kiện giao dịch chung (Điều 406). Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng do một bên soạn sẵn để giao kết với nhiều bên; điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung. Phụ lục hợp đồng không phải là loại hợp đồng độc lập mà là bộ phận của hợp đồng đã giao kết, do đó mọi sửa đổi, bổ sung qua phụ lục phải tuân thủ nguyên tắc tự do thỏa thuận và không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội theo Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.
Thực tiễn cho thấy, khi ký phụ lục điều chỉnh giá hoặc tiến độ, các bên cần ghi rõ phạm vi thay thế của phụ lục đối với điều khoản tương ứng trong hợp đồng chính để tránh xung đột nội dung. Nếu phụ lục không ghi rõ điều khoản nào bị thay thế, tranh chấp có thể phát sinh về việc điều khoản cũ còn hiệu lực hay không.
Trong giao kết hợp đồng theo mẫu và áp dụng điều kiện giao dịch chung, bên đưa ra hợp đồng thường là tổ chức, doanh nghiệp có lợi thế về thông tin và kinh nghiệm pháp lý, trong khi người tiêu dùng ở vị thế yếu hơn. Vì vậy, pháp luật dân sự đặt ra các cơ chế bảo vệ đặc thù nhằm bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa các bên.
Thứ nhất, theo khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng theo mẫu phải được bên đưa ra hợp đồng công khai hợp lý để bên kia biết hoặc phải biết về nội dung của hợp đồng. Quy định này nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người tiêu dùng trước khi xác lập giao dịch. Ví dụ, ngân hàng khi cung cấp hợp đồng tín dụng theo mẫu phải niêm yết công khai biểu phí, lãi suất, điều khoản phạt vi phạm để khách hàng đọc, nghiên cứu trước khi ký kết.
Thứ hai, Điều 406 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trường hợp điều kiện giao dịch chung có nội dung miễn trách nhiệm của bên đưa ra, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì việc áp dụng phải tuân theo nguyên tắc giải thích theo hướng bất lợi cho bên đưa ra điều kiện. Đây là nguyên tắc giải thích chống lại bên soạn thảo, bảo vệ người tiêu dùng khi có cách hiểu khác nhau về cùng một điều khoản. Ví dụ, điều khoản quy định “bên bán không chịu trách nhiệm đối với hư hỏng phát sinh sau khi giao hàng” nếu gây tranh chấp về thời điểm chuyển rủi ro sẽ được giải thích theo hướng có lợi cho người mua.
Thứ ba, khoản 2 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định phụ lục hợp đồng không được sửa đổi, loại trừ hiệu lực của các điều khoản chính của hợp đồng. Quy định này ngăn chặn hành vi lách luật bằng cách đưa vào phụ lục những điều khoản bất lợi cho người tiêu dùng, làm vô hiệu hóa các thỏa thuận bảo vệ quyền lợi đã được ghi nhận trong hợp đồng chính. Ví dụ, doanh nghiệp không thể thông qua phụ lục để âm thầm hủy bỏ điều khoản bảo hành sản phẩm đã cam kết trong hợp đồng gốc.
Như vậy, các quy định tại Điều 405, Điều 406 và Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015 tạo thành khung pháp lý cơ bản bảo vệ người tiêu dùng trước rủi ro từ hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung, bảo đảm nguyên tắc thiện chí, trung thực và bình đẳng trong giao dịch dân sự.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.