Điều 271 BLTTDS 2015: Người có quyền kháng cáo | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 271 BLTTDS 2015: Người có quyền kháng cáo

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Chủ thể có quyền kháng cáo
  2. Quyền kháng cáo của đương sự
  3. Quyền kháng cáo của người khác có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
  4. Giới hạn kháng cáo
  5. Thực tiễn quyết định kháng cáo

Điều 271. Người có quyền kháng cáo Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Chủ thể có quyền kháng cáo

Chủ thể có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước.

Thứ nhất, đương sự trong vụ án dân sự là chủ thể cơ bản và phổ biến nhất có quyền kháng cáo. Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Quyền kháng cáo của đương sự phát sinh khi bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và họ cho rằng bản án, quyết định đó xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Ví dụ, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại 500 triệu đồng, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận 300 triệu đồng; nguyên đơn có quyền kháng cáo phần yêu cầu không được chấp nhận.

Thứ hai, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo thay cho đương sự. Người đại diện theo pháp luật đương nhiên có quyền này; người đại diện theo ủy quyền chỉ được kháng cáo khi nội dung ủy quyền có ghi rõ quyền kháng cáo. Ví dụ, cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền lợi của con mà không cần có văn bản ủy quyền riêng.

Thứ ba, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước cũng có quyền kháng cáo. Ví dụ, tổ chức đại diện tập thể lao động khởi kiện bảo vệ quyền lợi người lao động có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm nếu xét thấy quyền lợi của người lao động chưa được bảo đảm.

Việc thực hiện quyền kháng cáo phải tuân thủ thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Quá thời hạn nêu trên mà không có lý do chính đáng, chủ thể có quyền kháng cáo sẽ mất quyền kháng cáo, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

2. Quyền kháng cáo của đương sự

Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định đương sự là chủ thể đầu tiên có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự. Quyền kháng cáo phát sinh khi bản án, quyết định sơ thẩm được tuyên và chỉ chấm dứt khi hết thời hạn luật định mà đương sự không thực hiện quyền này.

Về bản chất, kháng cáo là hành vi tố tụng thể hiện sự không đồng ý của đương sự đối với toàn bộ hoặc một phần nội dung bản án, quyết định sơ thẩm. Đương sự có quyền kháng cáo độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của đương sự khác hay của Viện kiểm sát. Ví dụ, trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai diện tích đất tranh chấp dẫn đến bất lợi cho mình thì bị đơn có quyền kháng cáo phần quyết định liên quan đến diện tích đất mà không cần sự đồng ý của nguyên đơn.

Về phạm vi, đương sự có thể kháng cáo toàn bộ bản án hoặc chỉ kháng cáo một phần. Trường hợp kháng cáo một phần, phần bản án không bị kháng cáo vẫn có hiệu lực pháp luật sau khi hết thời hạn kháng cáo. Điều này cho phép đương sự tập trung vào những nội dung thực sự gây bất lợi, tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Về thời hạn, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án, thời hạn kháng cáo là 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Việc tuân thủ thời hạn có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực của kháng cáo; kháng cáo quá hạn chỉ được xem xét khi có lý do chính đáng theo quy định tại Điều 275 của Bộ luật này.

Thực tiễn xét xử cho thấy, quyền kháng cáo của đương sự là công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử, tạo cơ hội để Tòa án cấp phúc thẩm kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

3. Quyền kháng cáo của người khác có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Theo quy định tại khoản 2 Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự, theo đó mọi đương sự tham gia vụ án đều có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

Phạm vi kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị giới hạn ở phần nội dung bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Họ không có quyền kháng cáo đối với phần nội dung chỉ liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các đương sự khác. Ví dụ: trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn A và bị đơn B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan C là người đang thuê thửa đất tranh chấp. Nếu bản án sơ thẩm tuyên buộc C phải chấm dứt hợp đồng thuê và trả lại đất cho A, C có quyền kháng cáo phần quyết định này. Tuy nhiên, C không có quyền kháng cáo phần quyết định xác định ai là chủ sử dụng đất hợp pháp giữa A và B nếu phần đó không trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi của C.

Về thời hạn kháng cáo, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn tính từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng áp dụng thời hạn kháng cáo chung này. Trường hợp kháng cáo quá hạn vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, họ có thể đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận kháng cáo quá hạn theo quy định tại Điều 275 của Bộ luật này.

Thực tiễn xét xử cho thấy, việc xác định đúng tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phạm vi quyền kháng cáo của họ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý, tránh bỏ sót quyền kháng cáo của đương sự, đồng thời ngăn ngừa việc lạm dụng quyền kháng cáo làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

4. Giới hạn kháng cáo

Kháng cáo là quyền tố tụng của đương sự, nhưng quyền này không mang tính tuyệt đối mà bị giới hạn bởi phạm vi xét xử phúc thẩm và thời hạn do pháp luật quy định. Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chỉ những chủ thể được liệt kê cụ thể mới có quyền kháng cáo, bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vì lợi ích của người khác hoặc lợi ích công cộng. Người không thuộc diện này không thể làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, dù có đơn yêu cầu.

Về phạm vi, người kháng cáo chỉ được yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần bản án, quyết định sơ thẩm có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử trong phạm vi nội dung đã kháng cáo, trừ trường hợp phát hiện vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai lầm rõ ràng trong việc áp dụng pháp luật gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khác. Ví dụ, trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất có nhiều đồng bị đơn, nếu chỉ một bị đơn kháng cáo về phần diện tích đất được chia, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét lại toàn bộ quan hệ tranh chấp mà chỉ giải quyết phần liên quan đến người kháng cáo đó.

Bên cạnh giới hạn về chủ thể và phạm vi, quyền kháng cáo còn bị ràng buộc chặt chẽ về thời hạn. Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Quá thời hạn nêu trên mà không có lý do chính đáng, đơn kháng cáo sẽ không được chấp nhận, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Như vậy, giới hạn kháng cáo thể hiện sự cân bằng giữa bảo đảm quyền tiếp cận công lý hai cấp xét xử và yêu cầu ổn định, nhanh chóng của hoạt động tố tụng dân sự.

5. Thực tiễn quyết định kháng cáo

Trong thực tiễn xét xử, việc xác định đúng người có quyền kháng cáo theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có ý nghĩa quyết định đến tính hợp lệ của kháng cáo. Tòa án cấp sơ thẩm khi tiếp nhận đơn kháng cáo phải kiểm tra tư cách chủ thể kháng cáo trước khi xem xét các điều kiện khác về hình thức, nội dung và thời hạn. Trường hợp người kháng cáo không thuộc diện quy định tại Điều 271 thì Tòa án trả lại đơn kháng cáo; nếu đã thụ lý thì cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo đó.

Thực tiễn phát sinh vướng mắc phổ biến đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khoản 4 Điều 271 chỉ cho phép người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo đối với phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Ví dụ, trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất chỉ được kháng cáo phần quyết định của bản án ảnh hưởng đến hiệu lực hợp đồng thế chấp hoặc quyền xử lý tài sản bảo đảm, không được kháng cáo toàn bộ bản án về quan hệ tranh chấp giữa các đương sự chính. Tòa án cấp phúc thẩm trong nhiều trường hợp đã xác định phạm vi kháng cáo vượt quá phần liên quan trực tiếp và chỉ xem xét phần có liên quan, phần còn lại không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm.

Đối với người đại diện theo ủy quyền, thực tiễn yêu cầu văn bản ủy quyền phải ghi rõ nội dung được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 271 và khoản 2 Điều 273. Nhiều trường hợp đơn kháng cáo do người đại diện theo ủy quyền ký nhưng hợp đồng ủy quyền chỉ ghi chung là “được quyền tham gia tố tụng” mà không ghi rõ quyền kháng cáo, dẫn đến Tòa án xác định kháng cáo không hợp lệ. Điều này đòi hỏi đương sự và người đại diện phải đặc biệt lưu ý phạm vi ủy quyền khi soạn thảo văn bản ủy quyền.

Về thời hạn kháng cáo, Điều 273 quy định thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Thực tiễn cho thấy nhiều kháng cáo bị trả lại do quá hạn mà không có lý do chính đáng. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đương sự phải trình bày rõ trong đơn và gửi kèm tài liệu chứng minh để Tòa án xem xét chấp nhận việc kháng cáo quá hạn theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 271 về người có quyền kháng cáo
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 - Điều 273 về thời hạn kháng cáo
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp