Bản quyền nội dung số: xử lý khi bị sao chép, reup trái phép | Công ty Luật Minh Bạch

Bản quyền nội dung số: xử lý khi bị sao chép, reup trái phép

Sở hữu trí tuệ · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung số có được bảo hộ quyền tác giả không
  2. Căn cứ phát sinh quyền tác giả với tác phẩm số
  3. Các hành vi sao chép, reup bị coi là xâm phạm
  4. Biện pháp xử lý: yêu cầu gỡ nội dung, khiếu nại, tố cáo
  5. Khiếu nại vi phạm bản quyền trên nền tảng (DMCA, Takedown)
  6. Bồi thường thiệt hại và các biện pháp dân sự, hành chính

Điều 6. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ 1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. 2. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa, 25 tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả. 3. Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau: a)26 Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 83 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. Cụm từ “tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa,” được bổ sung theo quy định tại điểm a

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung số có được bảo hộ quyền tác giả không

Nội dung số được bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng đủ điều kiện là tác phẩm do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký (Điều 6).

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả quy định tại Điều 14 bao gồm nhiều dạng nội dung số phổ biến như: tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; bài giảng, bài phát biểu; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm mỹ thuật ứng dụng; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. Như vậy, video, bài viết, hình ảnh, bản nhạc, podcast, phần mềm, cơ sở dữ liệu đăng tải trên môi trường số đều thuộc phạm vi bảo hộ nếu thỏa mãn điều kiện về tính sáng tạo.

Ví dụ thực tiễn, một video đánh giá sản phẩm do người sáng tạo tự quay, dựng, thuyết minh là tác phẩm điện ảnh được bảo hộ. Khi người khác tải video này về rồi đăng lại trên kênh khác mà không xin phép, hành vi đó xâm phạm quyền sao chép và quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng theo Điều 28. Chủ thể quyền có quyền áp dụng các biện pháp xử lý theo Điều 199 như biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm.

Lưu ý, nội dung số chỉ được bảo hộ khi là sản phẩm sáng tạo của con người. Tin tức thời sự thuần túy đưa tin, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính thuộc đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điều 15 của Luật.

2. Căn cứ phát sinh quyền tác giả với tác phẩm số

Quyền tác giả đối với tác phẩm số phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Căn cứ pháp lý trực tiếp là khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026: quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Như vậy, pháp luật Việt Nam áp dụng cơ chế bảo hộ tự động, không đòi hỏi thủ tục đăng ký là điều kiện bắt buộc để phát sinh quyền.

Đối với tác phẩm số, yêu cầu “thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định” được đáp ứng khi nội dung được định hình dưới dạng dữ liệu điện tử mà con người có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt được, như tệp văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, phần mềm, bài viết trên website, nội dung trên mạng xã hội. Các loại hình tác phẩm số được bảo hộ quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất, bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; tác phẩm báo chí; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm sân khấu, điện ảnh; chương trình máy tính; sưu tập dữ liệu.

Ví dụ thực tiễn: một video clip do cá nhân tự quay, dựng và đăng tải lên nền tảng chia sẻ video phát sinh quyền tác giả ngay tại thời điểm tệp video được tạo ra và lưu trữ trên thiết bị, không phụ thuộc vào việc đã đăng tải công khai hay chưa. Hành vi tải lại và đăng tải video đó lên kênh khác mà không được phép của tác giả là hành vi sao chép, phân phối trái phép, thuộc trường hợp xâm phạm quyền tác giả theo quy định tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất. Chủ thể quyền có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp xử lý theo Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất, bao gồm biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm.

Việc đăng ký quyền tác giả tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuy không phải là điều kiện phát sinh quyền nhưng có ý nghĩa quan trọng về chứng cứ, giúp chủ thể quyền thuận lợi hơn trong việc chứng minh tư cách tác giả, chủ sở hữu quyền khi xảy ra tranh chấp hoặc yêu cầu xử lý hành vi sao chép, reup trái phép.

3. Các hành vi sao chép, reup bị coi là xâm phạm

Theo quy định tại Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Như vậy, ngay khi một nội dung số được tạo ra và định hình dưới dạng dữ liệu điện tử, quyền tác giả đã được xác lập mà không cần thực hiện bất kỳ thủ tục đăng ký nào.

Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được liệt kê tại Điều 14 của Luật, bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; bài giảng, bài phát biểu; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm mỹ thuật ứng dụng; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. Trong môi trường số, các nội dung như video, bài viết, hình ảnh, podcast, bản nhạc, phần mềm đều thuộc phạm vi bảo hộ này nếu đáp ứng điều kiện được sáng tạo trực tiếp bằng lao động trí tuệ của tác giả.

Điều 28 của Luật quy định các hành vi xâm phạm quyền tác giả. Đối với hành vi sao chép, reup trái phép, các hành vi bị coi là xâm phạm bao gồm: sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; sử dụng tác phẩm mà không xin phép, không trả tiền nhuận bút, thù lao theo quy định; làm tác phẩm phái sinh mà không được phép; sử dụng tác phẩm đã công bố mà không xin phép, không trả tiền trong các trường hợp pháp luật yêu cầu phải xin phép. Hành vi reup — tải lại và đăng tải nội dung lên nền tảng khác mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu — bản chất là hành vi sao chép và truyền đạt tác phẩm đến công chúng trái phép, do đó bị coi là xâm phạm quyền tác giả.

Ví dụ thực tiễn: một kênh YouTube sao chép toàn bộ video của người sáng tạo khác rồi đăng lại trên kênh của mình để thu lợi từ quảng cáo; một trang tin điện tử lấy bài viết của báo khác đăng lại không ghi nguồn, không xin phép; một tài khoản mạng xã hội tải video từ TikTok đăng lên Facebook. Các hành vi này đều thuộc trường hợp bị xử lý theo Điều 199 của Luật, theo đó tổ chức, cá nhân bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự để xử lý hành vi xâm phạm.

4. Biện pháp xử lý: yêu cầu gỡ nội dung, khiếu nại, tố cáo

Khi phát hiện nội dung số bị sao chép, reup trái phép, chủ thể quyền có thể áp dụng đồng thời hoặc tuần tự các biện pháp sau đây, căn cứ theo quy định tại Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026.

Thứ nhất, yêu cầu gỡ nội dung trực tiếp từ bên xâm phạm. Chủ thể quyền có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi, gỡ bỏ nội dung sao chép, reup trái phép và xin lỗi, cải chính công khai. Ví dụ, chủ kênh YouTube phát hiện video của mình bị kênh khác tải lại và đăng nguyên văn, có thể gửi thông báo yêu cầu gỡ video trong thời hạn cụ thể. Đây là biện pháp nhanh, ít tốn kém, phù hợp với trường hợp bên xâm phạm hợp tác thiện chí.

Thứ hai, khiếu nại đến nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Đối với nội dung đăng tải trên nền tảng mạng xã hội, trang chia sẻ video, chủ thể quyền có thể sử dụng cơ chế khiếu nại bản quyền do nền tảng cung cấp, yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm. Ví dụ, tác giả bài viết bị sao chép trên một trang tin điện tử có thể gửi khiếu nại kèm bằng chứng quyền sở hữu đến ban quản trị trang để yêu cầu gỡ bài. Cơ sở pháp lý cho biện pháp này xuất phát từ quyền tự bảo vệ của chủ thể quyền theo Điều 199, đồng thời phù hợp với trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ nội dung xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ ba, tố cáo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi biện pháp yêu cầu gỡ nội dung không đạt kết quả, hoặc hành vi xâm phạm có tính chất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn, chủ thể quyền có thể gửi đơn tố cáo đến cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ hoặc cơ quan công an để yêu cầu xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ, trường hợp một tổ chức sao chép hàng loạt khóa học trực tuyến có thu phí rồi bán lại với giá rẻ, chủ sở hữu quyền tác giả có thể tố cáo đến Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc cơ quan công an để xử lý theo quy định.

Việc lựa chọn biện pháp cần căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của hành vi, thiệt hại thực tế và khả năng hợp tác của bên xâm phạm. Chủ thể quyền nên lưu giữ đầy đủ bằng chứng về quyền sở hữu và hành vi xâm phạm trước khi thực hiện bất kỳ biện pháp nào.

5. Khiếu nại vi phạm bản quyền trên nền tảng (DMCA, Takedown)

Khi phát hiện nội dung số của mình bị sao chép, reup trái phép trên các nền tảng trực tuyến, chủ thể quyền có thể yêu cầu nền tảng gỡ bỏ nội dung vi phạm thông qua cơ chế khiếu nại gỡ bỏ (takedown). Đây là biện pháp xử lý nhanh, hiệu quả, không cần khởi kiện ra tòa án, được thực hiện trực tiếp với đơn vị cung cấp dịch vụ trung gian như YouTube, Facebook, TikTok, Shopee, các website tin tức hoặc nền tảng thương mại điện tử.

Về căn cứ pháp lý, quyền tác giả đối với nội dung số phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt đã công bố hay chưa, đã đăng ký hay chưa đăng ký (Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026). Các loại hình tác phẩm được bảo hộ bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tác phẩm báo chí, chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu và nhiều loại hình khác (Điều 14). Hành vi sao chép, reup trái phép thuộc nhóm hành vi xâm phạm quyền tác giả bị nghiêm cấm theo Điều 28.

Về biện pháp xử lý, Điều 199 quy định chủ thể quyền có quyền áp dụng các biện pháp công nghệ, biện pháp hành chính, dân sự hoặc hình sự để bảo vệ quyền của mình. Trong đó, yêu cầu nền tảng gỡ bỏ nội dung vi phạm là biện pháp công nghệ kết hợp với cơ chế tự bảo vệ quyền, được thực hiện thông qua quy trình khiếu nại của từng nền tảng. Chủ thể quyền cần cung cấp đầy đủ thông tin: danh tính người khiếu nại, bằng chứng về quyền sở hữu (bản gốc tác phẩm, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả nếu có), đường dẫn đến nội dung gốc và nội dung vi phạm, mô tả hành vi xâm phạm, cam kết chịu trách nhiệm về tính trung thực của khiếu nại.

Ví dụ thực tiễn: một kênh YouTube sáng tạo video hướng dẫn nấu ăn phát hiện video của mình bị một kênh khác tải xuống, cắt ghép và đăng lại. Chủ kênh gốc có thể sử dụng công cụ báo cáo vi phạm bản quyền của YouTube, gửi thông báo gỡ bỏ theo quy trình DMCA. Nếu nền tảng xác nhận khiếu nại hợp lệ, video vi phạm sẽ bị gỡ bỏ. Trường hợp bên bị khiếu nại phản đối, nền tảng có thể khôi phục nội dung và các bên tiếp tục giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc trọng tài theo quy định của pháp luật.

6. Bồi thường thiệt hại và các biện pháp dân sự, hành chính

Khi nội dung số bị sao chép, reup trái phép, chủ thể quyền tác giả có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp dân sự và hành chính theo quy định tại Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH. Về dân sự, chủ thể quyền có thể khởi kiện ra Tòa án để buộc bên xâm phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai, thực hiện nghĩa vụ dân sự, bồi thường thiệt hại, tiêu hủy hoặc buộc phân phối hàng hóa xâm phạm. Việc bồi thường thiệt hại được xác định theo thiệt hại thực tế về vật chất và tinh thần, bao gồm tổn thất về tài sản, thu nhập bị giảm sút, chi phí hợp lý để ngăn chặn và khắc phục hành vi xâm phạm.

Về hành chính, cơ quan có thẩm quyền có thể xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sao chép, reup trái phép, với các hình thức cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên môi trường số. Ví dụ thực tiễn: một kênh YouTube reup toàn bộ video của nhà sáng tạo nội dung khác mà không được phép. Chủ sở hữu có thể gửi yêu cầu gỡ bỏ theo cơ chế thông báo – gỡ bỏ của nền tảng, đồng thời yêu cầu cơ quan quản lý xử phạt hành chính hoặc khởi kiện dân sự đòi bồi thường. Căn cứ xác lập quyền được quy định tại Điều 6, phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được quy định tại Điều 14, còn hành vi sao chép, reup không phép thuộc nhóm hành vi xâm phạm quyền tác giả theo Điều 28 của Luật này.

Việc lựa chọn biện pháp dân sự hay hành chính phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng, thiệt hại thực tế và mục tiêu của chủ thể quyền. Trong nhiều trường hợp, chủ thể quyền kết hợp đồng thời cả hai biện pháp để vừa chấm dứt nhanh hành vi vi phạm, vừa bảo đảm bồi hoàn thiệt hại đã phát sinh.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026 - Điều 6 về căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
  • Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026 - Điều 14 về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
  • Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026 - Điều 28 về hành vi xâm phạm quyền tác giả
  • Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026 - Điều 199 về biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp