Tranh chấp giữa cổ đông và thành viên công ty: hướng dẫn giải quyết | Công ty Luật Minh Bạch

Tranh chấp giữa cổ đông và thành viên công ty: hướng dẫn giải quyết

Tranh chấp kinh doanh, thương mại · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Các loại tranh chấp nội bộ doanh nghiệp
  2. Tranh chấp giữa cổ đông với công ty
  3. Tranh chấp giữa thành viên với công ty TNHH
  4. Khởi kiện ra Tòa án
  5. Giải quyết bằng Trọng tài thương mại
  6. Lưu ý về thời hiệu và thẩm quyền

Điều 166. Quyền khởi kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc 1. Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác trong trường hợp sau đây: a) Vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty theo quy định tại Điều 165 của Luật này; b) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không kịp thời hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị đối với quyền và nghĩa vụ được giao; c) Lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. 2. Trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty được tính vào chi phí của công ty, trừ trường hợp bị bác yêu cầu khởi kiện. 3. Cổ đông, nhóm cổ đông theo quy định tại Điều này có quyền xem xét, tra cứu, trích lục thông tin cần thiết theo quyết định của Tòa án, Trọng tài trước hoặc trong quá trình khởi kiện.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Các loại tranh chấp nội bộ doanh nghiệp

Tranh chấp nội bộ doanh nghiệp phát sinh giữa cổ đông, thành viên công ty với nhau hoặc với người quản lý, điều hành doanh nghiệp, liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ góp vốn, quản trị và phân chia lợi nhuận. Căn cứ quy định tại Điều 166 đến Điều 172 Luật Doanh nghiệp 2020 và khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, có thể phân loại các tranh chấp nội bộ chủ yếu như sau:

Thứ nhất, tranh chấp về quyền của cổ đông, thành viên công ty. Đây là nhóm phổ biến nhất, bao gồm tranh chấp về quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên, quyền tiếp cận thông tin, sổ sách kế toán, quyền nhận cổ tức, lợi nhuận. Ví dụ, cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần phổ thông trở lên có quyền yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường theo quy định tại Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020; nếu công ty từ chối mà không có căn cứ hợp pháp, cổ đông có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc công ty thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, tranh chấp về chuyển nhượng, mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần. Tranh chấp thường xảy ra khi thành viên chuyển nhượng vốn không tuân thủ thủ tục chào bán cho các thành viên còn lại theo Điều 51 Luật Doanh nghiệp 2020, hoặc khi công ty không thực hiện nghĩa vụ mua lại phần vốn góp của thành viên bỏ phiếu không tán thành nghị quyết về tổ chức lại công ty theo Điều 52. Ví dụ, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chuyển nhượng toàn bộ vốn cho người ngoài mà không thông báo cho các thành viên còn lại, dẫn đến giao dịch bị yêu cầu tuyên vô hiệu.

Thứ ba, tranh chấp về hành vi của người quản lý, điều hành công ty. Cổ đông, thành viên có quyền khởi kiện người quản lý khi người này vi phạm nghĩa vụ trung thành, nghĩa vụ cẩn trọng, gây thiệt hại cho công ty theo quy định tại Điều 166 và Điều 167 Luật Doanh nghiệp 2020. Ví dụ, Giám đốc tự ý ký hợp đồng vay vốn với lãi suất cao bất thường cho công ty con của người thân, gây thất thoát tài sản doanh nghiệp.

Thứ tư, tranh chấp về giải thể, tổ chức lại doanh nghiệp. Bao gồm tranh chấp về quyết định giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập công ty, phân chia tài sản còn lại sau khi thanh lý. Các tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

2. Tranh chấp giữa cổ đông với công ty

Tranh chấp giữa cổ đông với công ty phát sinh khi quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông bị xâm phạm bởi các quyết định, hành vi của công ty hoặc người quản lý công ty. Đây là loại tranh chấp nội bộ phổ biến trong công ty cổ phần, thường liên quan đến quyền tiếp cận thông tin, quyền nhận cổ tức, quyền biểu quyết, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông hoặc quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần.

Theo quy định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ trường hợp bị hạn chế theo quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này. Khi công ty vi phạm quyền này, chẳng hạn từ chối ghi nhận việc chuyển nhượng cổ phần vào sổ đăng ký cổ đông mà không có căn cứ hợp pháp, cổ đông có quyền khởi kiện yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ. Điều 51 và Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về việc mua lại phần vốn góp và chuyển nhượng phần vốn góp, tạo cơ sở pháp lý cho cổ đông yêu cầu công ty mua lại cổ phần trong các trường hợp luật định, như khi cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông.

Về thẩm quyền giải quyết, Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Tranh chấp giữa cổ đông với công ty thuộc loại tranh chấp kinh doanh, thương mại và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Ví dụ thực tiễn: Cổ đông A nắm giữ 15% cổ phần của Công ty cổ phần X. Công ty X tổ chức Đại hội đồng cổ đông nhưng không gửi thông báo mời họp cho A theo đúng thời hạn quy định tại Điều 143 Luật Doanh nghiệp 2020, dẫn đến A không thể tham dự và biểu quyết. Trong trường hợp này, A có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông do vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục triệu tập họp, căn cứ theo khoản 2 Điều 151 Luật Doanh nghiệp 2020.

Như vậy, để bảo vệ quyền lợi khi phát sinh tranh chấp với công ty, cổ đông cần lưu giữ đầy đủ chứng cứ về hành vi vi phạm, xác định rõ căn cứ pháp lý và lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp, bao gồm thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền.

3. Tranh chấp giữa thành viên với công ty TNHH

Tranh chấp giữa thành viên với công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) phát sinh chủ yếu từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ gắn với phần vốn góp, bao gồm: quyền được chia lợi nhuận, quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp, quyền chuyển nhượng phần vốn góp, quyền tiếp cận thông tin và quyền khởi kiện người quản lý. Theo quy định tại Điều 51 Luật Doanh nghiệp 2020, thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình nếu đã biểu quyết không tán thành đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề thuộc thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này, như sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại công ty hoặc các trường hợp khác do Điều lệ quy định. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, công ty phải mua lại phần vốn góp với giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc tại Điều lệ; nếu không thỏa thuận được về giá, thành viên có quyền yêu cầu tổ chức thẩm định giá định giá và công ty phải chấp nhận mức giá đó.

Về chuyển nhượng phần vốn góp, Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định thành viên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác, nhưng phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện chào bán; chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán. Tranh chấp thường nảy sinh khi công ty từ chối mua lại phần vốn góp, không thanh toán đúng hạn, hoặc cản trở việc chuyển nhượng trái quy định.

Về thẩm quyền giải quyết, khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, tổ chức lại công ty là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Ví dụ thực tiễn: thành viên sở hữu 30% vốn điều lệ biểu quyết không tán thành nghị quyết tăng vốn điều lệ bằng hình thức phát hành thêm phần vốn góp, sau đó yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp nhưng công ty không thực hiện; thành viên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi công ty đặt trụ sở chính để yêu cầu buộc công ty mua lại phần vốn góp và thanh toán giá trị phần vốn góp theo kết quả định giá.

Ngoài ra, theo tinh thần các Điều 166 đến 172 Luật Doanh nghiệp 2020 về quyền khởi kiện của thành viên, cổ đông, thành viên có quyền nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc khi những người này vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho công ty. Đây là cơ chế bảo vệ quyền lợi gián tiếp của thành viên khi công ty không tự khởi kiện người quản lý.

4. Khởi kiện ra Tòa án

Khi các biện pháp thương lượng, hòa giải nội bộ không đạt kết quả, cổ đông hoặc thành viên công ty có quyền khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là phương thức giải quyết tranh chấp cuối cùng, mang tính cưỡng chế thi hành cao nhất, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc trong công ty cổ phần; tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Đây là loại tranh chấp kinh doanh, thương mại, được giải quyết theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quyền khởi kiện, Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 01% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc trong một số trường hợp vi phạm nghĩa vụ của người quản lý. Tương tự, Điều 172 Luật Doanh nghiệp 2020 ghi nhận quyền khởi kiện của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn đối với người quản lý khi không thực hiện đúng nghĩa vụ, gây thiệt hại cho công ty hoặc thành viên khác.

Ví dụ thực tiễn: Thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên bị thành viên còn lại chiếm dụng vốn, không chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn đã thỏa thuận. Sau khi hòa giải không thành, thành viên bị xâm phạm quyền lợi có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi công ty đặt trụ sở chính để yêu cầu buộc thực hiện nghĩa vụ chia lợi nhuận, bồi thường thiệt hại, đồng thời có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản theo Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ngoài ra, trong trường hợp công ty không thực hiện nghĩa vụ mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần theo yêu cầu của thành viên, cổ đông theo quy định tại Điều 51 và Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020, người có quyền lợi bị ảnh hưởng có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc công ty thực hiện nghĩa vụ mua lại, thanh toán giá trị phần vốn góp hoặc cổ phần theo giá thị trường hoặc giá do tổ chức thẩm định giá xác định.

Thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp nội bộ công ty là 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Hồ sơ khởi kiện cần có đơn khởi kiện, tài liệu chứng minh tư cách thành viên, cổ đông và các chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế phát sinh.

5. Giải quyết bằng Trọng tài thương mại

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp giữa cổ đông, thành viên công ty với công ty hoặc giữa các cổ đông, thành viên với nhau, phát sinh từ hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Điều kiện tiên quyết để vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài là các bên phải có thỏa thuận trọng tài hợp pháp, thường được ghi nhận trong Điều lệ công ty hoặc thỏa thuận riêng bằng văn bản.

Đối với tranh chấp nội bộ công ty, thỏa thuận trọng tài phải được thông qua theo nguyên tắc biểu quyết tại Điều lệ hoặc theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020. Tranh chấp liên quan đến quyền mua lại vốn góp, chuyển nhượng phần vốn góp theo Điều 51 và Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020 có thể được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận. Tương tự, tranh chấp về quyền khởi kiện của cổ đông quy định tại các Điều 166 đến Điều 172 Luật Doanh nghiệp 2020 cũng thuộc phạm vi trọng tài khi đáp ứng điều kiện thỏa thuận.

Ưu điểm của trọng tài so với tòa án là thủ tục linh hoạt, bảo mật thông tin kinh doanh và phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo. Ví dụ thực tiễn: hai thành viên góp vốn thành lập công ty TNHH có điều khoản trọng tài trong Điều lệ. Khi phát sinh tranh chấp về việc một bên không thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng vốn theo cam kết, bên còn lại khởi kiện tại Trung tâm Trọng tài thương mại đã chỉ định thay vì tòa án, rút ngắn thời gian giải quyết và giữ kín bí mật kinh doanh.

Tuy nhiên, trọng tài không có thẩm quyền đối với một số tranh chấp nội bộ mang tính tổ chức như hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp pháp luật quy định thuộc thẩm quyền riêng của tòa án. Do đó, khi soạn thảo Điều lệ hoặc thỏa thuận, các bên cần xác định rõ phạm vi tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài để tránh phát sinh tranh cãi về thẩm quyền.

6. Lưu ý về thời hiệu và thẩm quyền

Thời hiệu khởi kiện. Tranh chấp giữa cổ đông, thành viên công ty với công ty hoặc giữa các cổ đông, thành viên với nhau phát sinh từ hoạt động quản trị, điều hành công ty thuộc loại tranh chấp kinh doanh, thương mại theo quy định tại khoản 4 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại là 02 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Cổ đông, thành viên cần đặc biệt lưu ý mốc tính thời hiệu: thời điểm phát sinh hành vi vi phạm (ví dụ ngày nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bị ban hành trái pháp luật, ngày công ty từ chối cung cấp thông tin, ngày từ chối mua lại cổ phần theo yêu cầu) chứ không phải thời điểm cổ đông biết được hành vi vi phạm. Trường hợp hết thời hiệu mà không có sự kiện làm gián đoạn hoặc bắt đầu lại theo Điều 157 Bộ luật Dân sự 2015, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Thẩm quyền theo loại việc và cấp xét xử. Tranh chấp giữa cổ đông, thành viên công ty với nhau hoặc với công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, tổ chức lại công ty thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo khoản 4 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Về cấp xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp kinh doanh, thương mại có giá ngạch dưới 500 triệu đồng thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp huyện; tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, tranh chấp yêu cầu hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, hoặc tranh chấp có giá ngạch từ 500 triệu đồng trở lên thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Về lãnh thổ, nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi bị đơn cư trú, đóng trụ sở hoặc nơi công ty có trụ sở chính theo điểm a, b khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ví dụ thực tiễn. Cổ đông sở hữu 15% cổ phần phổ thông yêu cầu công ty cung cấp báo cáo tài chính 03 năm theo điểm c khoản 2 Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2020 nhưng công ty không thực hiện. Cổ đông khởi kiện buộc công ty cung cấp thông tin. Đây là tranh chấp không có giá ngạch, thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty đặt trụ sở chính. Thời hiệu 02 năm tính từ ngày công ty từ chối hoặc hết thời hạn luật định mà không cung cấp thông tin.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) - Điều 166-172 về quyền của cổ đông và khởi kiện
  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 30 về tranh chấp kinh doanh thương mại
  • Luật Doanh nghiệp 2020 - Điều 51-52 về mua lại, chuyển nhượng vốn
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp