Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh | Công ty Luật Minh Bạch

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh

Sở hữu trí tuệ · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh theo Luật SHTT
  2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả
  3. Nội dung quyền nhân thân và quyền tài sản
  4. Thời hạn bảo hộ
  5. Xử lý vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh
  6. Lưu ý khi sử dụng tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh của người khác

Điều 14. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả51 1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; c) Tác phẩm báo chí; d) Tác phẩm âm nhạc; đ) Tác phẩm sân khấu; e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); g) Tác phẩm mỹ thuật52, mỹ thuật ứng dụng; Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Cụm từ “tác phẩm tạo hình” được thay thế bằng cụm từ “tác phẩm mỹ thuật” theo quy định tại điểm a khoản 82 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. h) Tác phẩm nhiếp ảnh; i) Tác phẩm kiến trúc; k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. 2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. 3. Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh theo Luật SHTT

Theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022), tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh là hai loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Cụ thể, điểm i khoản 1 Điều 14 liệt kê “tác phẩm kiến trúc” và điểm h liệt kê “tác phẩm nhiếp ảnh” trong danh mục các loại hình tác phẩm được bảo hộ.

Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ quy định rõ phạm vi của hai loại hình này. Tác phẩm kiến trúc bao gồm các bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình, tổ hợp công trình, nội thất, cảnh quan và cả chính công trình kiến trúc đã được xây dựng. Như vậy, đối tượng bảo hộ không chỉ dừng lại ở bản vẽ trên giấy mà còn mở rộng đến hình thức thể hiện vật chất của công trình. Tác phẩm nhiếp ảnh là tác phẩm thể hiện hình ảnh của thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra bằng phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác.

Ví dụ thực tiễn: bản vẽ thiết kế và công trình Bảo tàng Hà Nội do kiến trúc sư thiết kế được bảo hộ là tác phẩm kiến trúc; một bức ảnh phong cảnh do nhiếp ảnh gia chụp và xử lý kỹ thuật số được bảo hộ là tác phẩm nhiếp ảnh. Cả hai loại hình đều phát sinh quyền tác giả kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Về quyền tài sản, Điều 20 quy định quyền làm tác phẩm phái sinh, quyền sao chép, quyền phân phối, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng và các quyền tài sản khác thuộc về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Điều 27 quy định thời hạn bảo hộ quyền tài sản đối với tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh là suốt cuộc đời tác giả và bảy mươi năm tiếp theo năm tác giả chết. Đối với tác phẩm khuyết danh, thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên.

2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

Theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh là hai loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, không phải mọi công trình kiến trúc hay mọi bức ảnh đều đương nhiên được bảo hộ. Việc bảo hộ chỉ phát sinh khi tác phẩm đáp ứng đủ các điều kiện luật định.

Thứ nhất, tác phẩm phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình, không sao chép từ tác phẩm của người khác. Đối với tác phẩm kiến trúc, Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ xác định phạm vi bảo hộ bao gồm bản vẽ thiết kế kiến trúc, công trình kiến trúc, và cả mô hình, sa bàn. Yếu tố sáng tạo thể hiện ở giải pháp không gian, hình khối, kết cấu, thẩm mỹ do kiến trúc sư tạo ra. Đối với tác phẩm nhiếp ảnh, tính sáng tạo thể hiện ở góc chụp, bố cục, ánh sáng, khoảnh khắc ghi lại — yếu tố thể hiện dấu ấn cá nhân của nhiếp ảnh gia.

Thứ hai, tác phẩm phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định. Quyền tác giả không bảo hộ ý tưởng trừu tượng mà chỉ bảo hộ hình thức biểu hiện cụ thể. Bản vẽ kiến trúc phải được thể hiện trên giấy, tệp tin; công trình phải được xây dựng hoặc mô tả bằng hình ảnh ba chiều; bức ảnh phải được ghi lại trên phim, cảm biến kỹ thuật số hoặc vật liệu in ấn.

Thứ ba, tác phẩm không thuộc trường hợp bị loại trừ bảo hộ. Tin tức thời sự thuần túy đưa tin, văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động không được bảo hộ quyền tác giả. Một bức ảnh chụp lại nguyên văn một văn bản hành chính mà không có yếu tố sáng tạo nào sẽ không đủ điều kiện bảo hộ.

Ví dụ thực tiễn: Bức ảnh "Khoảnh khắc mùa thu Hà Nội" ghi lại cảnh lá vàng rơi bên hồ Gươm với góc máy và bố cục độc đáo đáp ứng đầy đủ điều kiện bảo hộ. Ngược lại, ảnh chụp lại toàn bộ trang báo điện tử một cách máy móc, không có sáng tạo, không được bảo hộ. Tương tự, thiết kế mặt đứng một tòa nhà với giải pháp hình khối riêng biệt được bảo hộ, trong khi bản vẽ kỹ thuật thuần túy chỉ mô tả thông số kỹ thuật tiêu chuẩn không thể hiện dấu ấn sáng tạo thì không đủ điều kiện.

Khi đáp ứng đủ các điều kiện trên, tác giả được hưởng quyền nhân thân và quyền tài sản theo Điều 20, với thời hạn bảo hộ quyền tài sản đối với tác phẩm kiến trúc và nhiếp ảnh là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ.

3. Nội dung quyền nhân thân và quyền tài sản

Đối với tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Quyền nhân thân gồm: quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Ví dụ, kiến trúc sư có quyền được ghi tên trên hồ sơ thiết kế, trên biển công trình; nhiếp ảnh gia có quyền yêu cầu ghi tên khi ảnh được đăng tải, triển lãm.

Quyền tài sản đối với hai loại hình tác phẩm này bao gồm: quyền làm tác phẩm phái sinh; quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng; quyền sao chép tác phẩm; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm. Chủ sở hữu quyền tác giả có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền này. Chẳng hạn, việc sao chép bản vẽ thiết kế công trình để xây dựng công trình khác, hay sử dụng bức ảnh trên trang thương mại điện tử mà không được phép, đều là hành vi xâm phạm quyền tài sản.

Về thời hạn bảo hộ, theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân (trừ quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ vô thời hạn. Quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản đối với tác phẩm nhiếp ảnh có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu; đối với tác phẩm kiến trúc, thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết. Quy định này phản ánh tính chất đặc thù của từng loại hình tác phẩm, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền và công chúng.

4. Thời hạn bảo hộ

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh được xác định theo quy định tại Điều 27 của Luật Sở hữu trí tuệ. Theo đó, quyền nhân thân (trừ quyền công bố tác phẩm) được bảo hộ vô thời hạn; quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết. Trường hợp tác phẩm có đồng tác giả, thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

Đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện, thời hạn bảo hộ được tính theo quy định nêu trên. Riêng tác phẩm nhiếp ảnh, trước đây theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, thời hạn bảo hộ quyền tài sản là năm mươi năm kể từ năm tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2022 đã bãi bỏ quy định riêng này, đưa tác phẩm nhiếp ảnh về cùng cơ chế bảo hộ chung là suốt cuộc đời tác giả cộng năm mươi năm, tạo sự thống nhất với các loại hình tác phẩm khác được quy định tại Điều 14.

Ví dụ thực tiễn: một kiến trúc sư thiết kế công trình nhà ở hoàn thành năm 2020 và qua đời năm 2030, thì quyền tài sản đối với tác phẩm kiến trúc đó được bảo hộ đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2080. Tương tự, một nhiếp ảnh gia chụp bức ảnh nghệ thuật năm 2024 và mất năm 2050, quyền tài sản đối với bức ảnh được bảo hộ đến hết năm 2100. Sau thời hạn này, tác phẩm thuộc về công chúng, tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng mà không phải xin phép hay trả thù lao, nhưng vẫn phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả theo quy định tại Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ.

5. Xử lý vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh

Việc xử lý vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh được thực hiện thông qua các biện pháp dân sự, hành chính và hình sự theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Theo Điều 14, tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh thuộc các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Điều 17 xác định tác phẩm kiến trúc bao gồm bản vẽ thiết kế kiến trúc, công trình kiến trúc; tác phẩm nhiếp ảnh là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra bằng phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác.

Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền tài sản theo Điều 20, bao gồm quyền sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng và các quyền khác. Thời hạn bảo hộ theo Điều 27 đối với tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.

Khi phát hiện hành vi xâm phạm, chủ thể quyền có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý. Biện pháp dân sự cho phép tòa án buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại. Biện pháp hành chính áp dụng với hành vi sao chép, sử dụng trái phép tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Ví dụ thực tiễn: việc một doanh nghiệp sao chép bản vẽ thiết kế kiến trúc của công trình để xây dựng công trình khác mà không xin phép, hoặc việc sử dụng tác phẩm nhiếp ảnh trên website thương mại, trong quảng cáo mà không trả thù lao, không ghi tên tác giả đều là hành vi xâm phạm quyền tác giả và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc buộc bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.

6. Lưu ý khi sử dụng tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh của người khác

Việc sử dụng tác phẩm kiến trúc, nhiếp ảnh của người khác phải tuân thủ quy định về quyền tác giả theo Luật Sở hữu trí tuệ. Theo Điều 14, tác phẩm kiến trúc và tác phẩm nhiếp ảnh là hai loại hình được bảo hộ quyền tác giả độc lập. Điều 17 quy định tác phẩm kiến trúc bao gồm bản vẽ thiết kế kiến trúc, công trình kiến trúc và mô hình kiến trúc; tác phẩm nhiếp ảnh là tác phẩm thể hiện hình ảnh thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo ra bằng phương pháp hóa học, điện tử hoặc phương pháp kỹ thuật khác.

Người sử dụng cần đặc biệt lưu ý ba vấn đề. Thứ nhất, việc sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng thuộc quyền tài sản độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả theo Điều 20. Mọi hành vi khai thác, sử dụng tác phẩm vì mục đích thương mại mà không được phép đều có thể bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Thứ hai, cần phân biệt giữa sử dụng tác phẩm và sử dụng hình ảnh chứa tác phẩm. Ví dụ, chụp ảnh một công trình kiến trúc để đăng tải nhằm mục đích quảng cáo du lịch có thể đồng thời liên quan đến quyền đối với tác phẩm nhiếp ảnh của người chụp và quyền đối với tác phẩm kiến trúc của kiến trúc sư. Thứ ba, thời hạn bảo hộ khác nhau giữa hai loại hình. Theo Điều 27, quyền tài sản đối với tác phẩm nhiếp ảnh có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; trong khi tác phẩm kiến trúc được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả qua đời.

Trong thực tiễn, doanh nghiệp sử dụng ảnh công trình kiến trúc trên website, brochure hoặc mạng xã hội để quảng bá cần xin phép và trả thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp thuộc ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả theo quy định tại Điều 25. Việc ghi nguồn, ghi tên tác giả không thay thế nghĩa vụ xin phép khi sử dụng vì mục đích thương mại.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022) - Điều 14: Các loại hình tác phẩm được bảo hộ
  • Luật Sở hữu trí tuệ - Điều 17: Tác phẩm kiến trúc, tác phẩm nhiếp ảnh
  • Luật Sở hữu trí tuệ - Điều 20, 27: Quyền tài sản và thời hạn bảo hộ
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp