Điều 78. Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh trong trường hợp sau đây: 1. Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc; 2. Làm căn cứ quân sự; 3. Làm công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; 4. Làm ga, cảng, công trình thông tin quân sự, an ninh; 5. Làm công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh; 6. Làm kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân; 7. Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; 8. Làm cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ, cơ sở an dưỡng, điều dưỡng, nghỉ dưỡng và phục hồi chức năng, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của lực lượng vũ trang nhân dân; 9. Làm nhà ở công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; 10. Làm cơ sở giam giữ; cơ sở tạm giam, tạm giữ; cơ sở giáo dục bắt buộc; trường giáo dưỡng và khu lao động, cải tạo, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân, trại viên, học sinh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 78 Luật Đất đai 2024 quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh. Theo đó, Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án, công trình phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh như: xây dựng căn cứ quân sự, công trình phòng thủ, trận địa, kho tàng, cơ sở giam giữ, trường bắn, thao trường huấn luyện, công trình chỉ huy, thông tin liên lạc, cơ yếu, biên phòng, cảnh sát biển, phòng cháy chữa cháy, phòng chống khủng bố và các công trình quốc phòng, an ninh khác do Chính phủ quy định.
Điểm đáng chú ý là phạm vi thu hồi theo Điều 78 không chỉ giới hạn ở đất quốc phòng, an ninh hiện hữu mà còn bao gồm đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nằm trong khu vực cần thu hồi để bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh. Ví dụ thực tiễn: khi mở rộng một căn cứ quân sự tại huyện biên giới, các thửa đất nông nghiệp liền kề của người dân trong phạm vi quy hoạch sẽ bị thu hồi để xây dựng vành đai an toàn.
Về căn cứ thu hồi, Điều 78 phải được áp dụng đồng thời với Điều 80 Luật Đất đai 2024. Theo đó, việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh chỉ được thực hiện khi dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, thuộc trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 78 và đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền. Điều này bảo đảm việc thu hồi không tùy tiện, phải tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ.
Về bồi thường, người có đất thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh được bồi thường theo nguyên tắc tại Điều 91 Luật Đất đai 2024: bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng hoặc bằng tiền theo giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi. Việc bồi thường phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng pháp luật và quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật Đất đai năm 2024, Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh trong các trường hợp sau đây:
Việc thu hồi đất trong các trường hợp nêu trên phải đáp ứng đầy đủ căn cứ và điều kiện quy định tại Điều 80 Luật Đất đai năm 2024, cụ thể: việc thu hồi đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; thuộc trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 78; và phải có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ví dụ thực tiễn: Khi Bộ Quốc phòng có nhu cầu mở rộng thao trường huấn luyện cho một đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn huyện X, diện tích đất dự kiến thu hồi phải nằm trong quy hoạch sử dụng đất quốc phòng đã được phê duyệt. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất, đồng thời thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi theo nguyên tắc quy định tại Điều 91 Luật Đất đai năm 2024, bảo đảm việc bồi thường được thực hiện công khai, dân chủ, đúng pháp luật.
Về thẩm quyền thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh theo Điều 78 Luật Đất đai 2024, cần xác định rõ chủ thể có quyền ra quyết định thu hồi đất. Theo quy định tại Luật Đất đai 2024, thẩm quyền thu hồi đất thuộc về Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tùy thuộc vào đối tượng sử dụng đất và phạm vi thu hồi.
Cụ thể, Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Trong khi đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường hợp thu hồi đất mà khu vực thu hồi có cả đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi.
Việc thu hồi đất phải tuân thủ các căn cứ, điều kiện quy định tại Điều 80 Luật Đất đai 2024, bao gồm việc dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được phê duyệt, và có quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đồng thời, nguyên tắc bồi thường theo Điều 91 Luật Đất đai 2024 yêu cầu việc bồi thường phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất thu hồi.
Ví dụ thực tiễn: Khi triển khai dự án xây dựng doanh trại quân đội tại huyện X, nếu đất thu hồi thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân thì Ủy ban nhân dân huyện X ban hành quyết định thu hồi đất. Nếu dự án nằm trên địa bàn nhiều huyện hoặc có đất của tổ chức thì Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định thu hồi. Quyết định thu hồi đất phải được ban hành đúng thẩm quyền, nếu sai thẩm quyền sẽ bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục hành chính và có thể bị khiếu kiện, hủy bỏ.
Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh được thực hiện theo quy định tại Điều 78 Luật Đất đai 2024, kết hợp với các điều kiện nêu tại Điều 80 và nguyên tắc bồi thường tại Điều 91 của Luật này. Về bản chất, đây là trình tự hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ động thực hiện, gồm các bước cơ bản sau:
Thứ nhất, xác định căn cứ thu hồi. Theo khoản 1 Điều 78, việc thu hồi đất chỉ được tiến hành khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Đồng thời, Điều 80 yêu cầu phải có đầy đủ căn cứ về dự án thuộc trường hợp thu hồi, về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và về điều kiện cụ thể của từng loại đất.
Thứ hai, thông báo thu hồi đất. Cơ quan có thẩm quyền phải thông báo công khai cho người có đất thu hồi biết về lý do, diện tích, kế hoạch thu hồi và chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Việc thông báo phải được thực hiện trước khi ban hành quyết định thu hồi một thời gian hợp lý để người dân chủ động trong sản xuất, đời sống.
Thứ ba, lập và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Căn cứ Điều 91, việc bồi thường phải bảo đảm công khai, dân chủ, đúng pháp luật; giá đất bồi thường được xác định theo giá đất cụ thể tại thời điểm thu hồi. Người có đất thu hồi có quyền tham gia ý kiến vào phương án bồi thường trước khi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Thứ tư, ban hành quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện. Sau khi phương án bồi thường được phê duyệt, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất, tổ chức chi trả bồi thường, bàn giao đất cho đơn vị được giao quản lý, sử dụng.
Ví dụ thực tiễn: khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng doanh trại quân đội tại một xã, UBND cấp huyện phải căn cứ quyết định của cấp có thẩm quyền về dự án quốc phòng, thông báo cho các hộ dân, lập phương án bồi thường theo giá đất cụ thể, tổ chức lấy ý kiến, phê duyệt phương án rồi mới ra quyết định thu hồi và chi trả bồi thường. Trình tự này bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh của Nhà nước.
Người có đất bị thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh theo Điều 78 Luật Đất đai 2024 được bảo đảm các quyền lợi cơ bản sau đây.
Thứ nhất, quyền được bồi thường theo nguyên tắc công bằng, công khai, đúng pháp luật. Khoản 1 Điều 91 Luật Đất đai 2024 quy định việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định tại thời điểm thu hồi. Ví dụ, hộ gia đình có đất ở bị thu hồi để xây dựng doanh trại quân đội sẽ được bồi thường bằng đất ở tái định cư hoặc bằng tiền tương ứng giá trị quyền sử dụng đất.
Thứ hai, quyền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại. Theo khoản 7 Điều 3 và Điều 91 Luật Đất đai 2024, người sử dụng đất đã đầu tư trực tiếp vào đất phù hợp với mục đích sử dụng nhưng chưa thu hồi hết chi phí thì được bồi thường phần chi phí còn lại. Ví dụ, người dân trồng cây lâu năm trên đất nông nghiệp bị thu hồi để làm trường bắn sẽ được bồi thường giá trị cây trồng chưa thu hoạch.
Thứ ba, quyền được hỗ trợ ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi nghề và tái định cư. Khoản 2 Điều 91 Luật Đất đai 2024 ghi nhận ngoài bồi thường, người bị thu hồi đất còn được hưởng các khoản hỗ trợ theo quy định, bảo đảm cuộc sống không bị xáo trộn nghiêm trọng sau khi mất đất.
Thứ tư, quyền được thông báo và tham gia ý kiến trước khi thu hồi. Điều 80 Luật Đất đai 2024 yêu cầu việc thu hồi đất phải có căn cứ, điều kiện rõ ràng, bao gồm thông báo thu hồi đất cho người dân biết trước một thời hạn hợp lý, bảo đảm quyền được biết và quyền khiếu nại nếu không đồng ý với quyết định thu hồi hoặc phương án bồi thường.
Như vậy, pháp luật đất đai hiện hành bảo vệ toàn diện quyền lợi của người bị thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, từ bồi thường vật chất đến hỗ trợ ổn định đời sống và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền khiếu nại.
Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh theo Điều 78 Luật Đất đai 2024 phải tuân thủ các nguyên tắc bồi thường quy định tại Điều 91 Luật này. Theo đó, người có đất thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng hoặc bằng tiền theo giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi. Điều 80 Luật Đất đai 2024 xác định căn cứ thu hồi phải dựa trên quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điểm cần lưu ý đặc biệt là đối với đất quốc phòng, an ninh, việc bồi thường không chỉ dừng lại ở giá trị quyền sử dụng đất mà còn bao gồm chi phí đầu tư vào đất còn lại theo khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai 2024. Ví dụ thực tiễn: khi thu hồi đất của hộ gia đình đang canh tác nông nghiệp để xây dựng trạm ra-đa quân sự, ngoài bồi thường về đất, hộ gia đình còn được thanh toán chi phí đã đầu tư như hệ thống tưới tiêu, cây trồng lâu năm chưa đến kỳ thu hoạch.
Về hỗ trợ tái định cư, nguyên tắc tại Điều 91 Luật Đất đai 2024 yêu cầu việc bố trí tái định cư phải hoàn thành trước khi thu hồi đất, bảo đảm nơi ở mới có điều kiện bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Trường hợp thu hồi đất ở vì mục đích quốc phòng, an ninh mà người dân phải di chuyển chỗ ở, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải lập và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi ban hành quyết định thu hồi đất. Người bị thu hồi đất được hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và các khoản hỗ trợ khác theo quy định.
Một lưu ý quan trọng khác là thời điểm tính giá bồi thường phải là thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, không phải thời điểm khảo sát hay thông báo thu hồi. Điều này bảo đảm quyền lợi người dân trước biến động giá đất trong quá trình thực hiện dự án quốc phòng, an ninh vốn thường kéo dài.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.