Điều 76 BLTTHS 2015: Chỉ định người bào chữa | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 76 BLTTHS 2015: Chỉ định người bào chữa

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Khái niệm chỉ định người bào chữa
  2. Các trường hợp bắt buộc chỉ định
  3. Thủ tục chỉ định người bào chữa
  4. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được chỉ định
  5. Lưu ý thực tiễn

Điều 76. Chỉ định người bào chữa 1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi. 2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này: a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa; b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Khái niệm chỉ định người bào chữa

Chỉ định người bào chữa là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định yêu cầu tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia tố tụng để bào chữa cho người bị buộc tội trong trường hợp người này không tự mình lựa chọn được người bào chữa hoặc thuộc trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Khác với hình thức người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ mời, chỉ định người bào chữa thể hiện trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa của Nhà nước. Theo khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 mà người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ. Các trường hợp bắt buộc chỉ định bao gồm: bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

Ví dụ thực tiễn: bị can Nguyễn Văn A bị khởi tố về tội giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Gia đình A không mời luật sư. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra phải ra văn bản yêu cầu Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa cho A, hoặc đề nghị Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử người thực hiện trợ giúp pháp lý cho A nếu A thuộc diện được trợ giúp pháp lý.

Người được chỉ định bào chữa phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của người bào chữa quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm: luật sư; người đại diện của người bị buộc tội; bào chữa viên nhân dân; trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Việc chỉ định người bào chữa phải được lập thành văn bản và gửi cho người bào chữa, người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ, đồng thời lưu vào hồ sơ vụ án nhằm bảo đảm tính minh bạch và hiệu lực pháp lý của quyết định chỉ định.

2. Các trường hợp bắt buộc chỉ định

Theo khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa trong bốn trường hợp sau đây:

  • Thứ nhất, bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (điểm a khoản 1 Điều 76). Đây là nhóm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, hậu quả pháp lý rất nặng nề nên sự tham gia của người bào chữa là bắt buộc nhằm bảo đảm quyền bào chữa được thực hiện đầy đủ.
  • Thứ hai, người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi (điểm b khoản 1 Điều 76). Quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tố tụng, bởi những đối tượng này bị hạn chế về khả năng nhận thức, tự bảo vệ quyền lợi của mình trước cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Thứ ba, người bị buộc tội là người dân tộc thiểu số không biết tiếng Việt (điểm c khoản 1 Điều 76). Ví dụ, bị can là người dân tộc Mông ở vùng sâu, vùng xa không nghe, nói, đọc, viết được tiếng Việt thì cơ quan điều tra phải chỉ định người bào chữa để bảo đảm họ hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và nội dung buộc tội.
  • Thứ tư, người bị buộc tội là người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công (điểm d khoản 1 Điều 76). Đây là chính sách thể hiện sự ghi nhận, tri ân của Nhà nước đối với những người đã có đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

Trong các trường hợp nêu trên, nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ (khoản 1 Điều 76). Việc chỉ định được thực hiện thông qua cơ quan, tổ chức hành nghề luật sư hoặc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Người bào chữa được chỉ định có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm quyền gặp gỡ, trao đổi riêng với người bị buộc tội, quyền thu thập chứng cứ, quyền tham gia hỏi cung, tranh tụng tại phiên tòa. Trường hợp người bị buộc tội thuộc diện chỉ định nhưng từ chối người bào chữa, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải lập biên bản về việc từ chối để làm căn cứ xác định trách nhiệm đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

3. Thủ tục chỉ định người bào chữa

Thủ tục chỉ định người bào chữa được thực hiện theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (văn bản hợp nhất số 17/2026/VBHN-VPQH). Theo đó, trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau cử người bào chữa: Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa; Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

Về trình tự, ngay sau khi xác định người bị buộc tội thuộc diện chỉ định người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra văn bản yêu cầu hoặc đề nghị tổ chức có trách nhiệm cử người bào chữa. Văn bản này phải nêu rõ họ tên, địa chỉ của người bị buộc tội, tội danh bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thời hạn cử người bào chữa. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hoặc đề nghị, tổ chức được yêu cầu có trách nhiệm cử người bào chữa và thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Trường hợp người bị buộc tội thuộc diện chỉ định người bào chữa nhưng người thân thích của họ đã mời luật sư thì cơ quan tiến hành tố tụng không phải thực hiện thủ tục chỉ định. Ví dụ thực tiễn: bị can là người dưới 18 tuổi bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản, gia đình đã ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư thì cơ quan điều tra ghi nhận việc đăng ký bào chữa của luật sư theo Điều 72, không cần gửi văn bản yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa.

Ngược lại, nếu người bị buộc tội hoặc người thân thích không mời người bào chữa, cơ quan tiến hành tố tụng phải chủ động thực hiện thủ tục chỉ định. Việc không thực hiện chỉ định người bào chữa trong các trường hợp bắt buộc là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có thể dẫn đến hậu quả các chứng cứ, tài liệu thu thập được bị đánh giá là không hợp pháp hoặc bản án bị hủy để điều tra, xét xử lại.

4. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được chỉ định

Người bào chữa được chỉ định theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có địa vị pháp lý đầy đủ như người bào chữa do người bị buộc tội hoặc người đại diện của họ lựa chọn. Quyền và nghĩa vụ của họ được xác định theo Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không có sự phân biệt về nguồn gốc chỉ định hay thỏa thuận.

Về quyền, người bào chữa được chỉ định có quyền gặp, hỏi người bị buộc tội; có mặt khi lấy lời khai, hỏi cung; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra; tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; đưa ra chứng cứ, yêu cầu, đề nghị; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Đặc biệt, người bào chữa được chỉ định có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bảo đảm việc bào chữa không bị cản trở.

Về nghĩa vụ, người bào chữa được chỉ định phải sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Họ không được từ chối bào chữa nếu đã nhận chỉ định, trừ trường hợp pháp luật quy định; không được tiết lộ bí mật mà mình biết trong khi thực hiện việc bào chữa; phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Ví dụ thực tiễn: Trong vụ án mà bị cáo bị truy tố về tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định luật sư từ Đoàn luật sư. Luật sư được chỉ định có quyền nghiên cứu toàn bộ hồ sơ, gặp bị cáo trong trại tạm giam để nắm tình tiết, đề nghị triệu tập thêm nhân chứng, và tại phiên tòa thực hiện việc tranh luận bình đẳng với đại diện Viện kiểm sát. Việc chỉ định không làm giảm chất lượng bào chữa; ngược lại, luật sư vẫn phải chịu trách nhiệm nghề nghiệp như trong mọi vụ án khác.

Như vậy, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được chỉ định tuân thủ đầy đủ Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và quyền bào chữa của người bị buộc tội trong các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo Điều 76.

5. Lưu ý thực tiễn

Thực tiễn áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy một số vướng mắc cần lưu ý đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người bào chữa.

Thứ nhất, về thời điểm phát sinh nghĩa vụ chỉ định người bào chữa. Khoản 1 Điều 76 quy định các trường hợp bắt buộc chỉ định, trong đó có trường hợp bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; người có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc người dưới 18 tuổi. Nghĩa vụ này phát sinh ngay từ giai đoạn điều tra, không chờ đến khi truy tố hay xét xử. Trên thực tiễn, nhiều vụ án bị hủy do cơ quan điều tra không chỉ định người bào chữa cho bị can dưới 18 tuổi ngay từ lần đầu lấy lời khai, dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Thứ hai, về thủ tục yêu cầu và trách nhiệm giải quyết. Khoản 2 Điều 76 quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của người bị buộc tội hoặc người đại diện của họ, cơ quan có thẩm quyền phải chuyển yêu cầu đến tổ chức hành nghề luật sư hoặc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Thực tiễn cho thấy tình trạng chậm chuyển yêu cầu, hoặc chuyển yêu cầu nhưng không đôn đốc cử người bào chữa, dẫn đến việc chỉ định mang tính hình thức. Cơ quan tiến hành tố tụng cần lập văn bản chuyển yêu cầu, theo dõi kết quả cử người bào chữa và ghi nhận đầy đủ vào hồ sơ vụ án.

Thứ ba, về quyền từ chối người bào chữa được chỉ định. Người bị buộc tội có quyền từ chối người bào chữa theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76, việc từ chối phải được lập thành văn bản, có xác nhận của cơ quan tiến hành tố tụng, và cơ quan này vẫn phải bảo đảm quyền bào chữa bằng hình thức phù hợp khác. Thực tiễn ghi nhận trường hợp bị can dưới 18 tuổi từ chối luật sư được chỉ định nhưng việc từ chối không được lập biên bản rõ ràng, dẫn đến tranh cãi về tính hợp lệ của thủ tục tại phiên tòa.

Thứ tư, về trách nhiệm của người bào chữa được chỉ định. Người bào chữa được chỉ định có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Điều 72, không bị giới hạn phạm vi bào chữa so với người bào chữa do đương sự tự lựa chọn. Việc chỉ định không làm giảm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư; luật sư được chỉ định vẫn phải thực hiện đầy đủ các hoạt động tham gia hỏi cung, nghiên cứu hồ sơ, tranh tụng tại phiên tòa như trường hợp nhận bào chữa theo hợp đồng.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 76 về chỉ định người bào chữa
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 - Điều 72 về người bào chữa
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp