Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động | Công ty Luật Minh Bạch

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động

Lao động · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
  2. Các trường hợp phải bồi thường
  3. Mức bồi thường thiệt hại
  4. Trách nhiệm bồi thường khi làm hư hỏng tài sản
  5. Trách nhiệm bồi thường khi làm mất tài sản
  6. Thủ tục xử lý bồi thường

Điều 129. Bồi thường thiệt hại 1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật này. 2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động được xác lập trên nền tảng pháp lý kết hợp giữa Bộ luật Lao động 2019 và Bộ luật Dân sự 2015, với sự hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trường hợp gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố, người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Bộ luật này. Trường hợp làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm.

Về nguyên tắc chung, Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Điều 585 xác định thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường của người lao động phát sinh khi hội tụ đủ ba yếu tố: (i) có hành vi vi phạm kỷ luật lao động hoặc gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động; (ii) có thiệt hại thực tế xảy ra; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.

2. Các trường hợp phải bồi thường

Người lao động phải bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động trong các trường hợp được quy định tại Điều 129 Bộ luật Lao động 2019. Cụ thể, trách nhiệm bồi thường phát sinh khi người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động; khi người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao; và khi người lao động tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.

Về mức bồi thường, khoản 1 Điều 129 quy định trường hợp gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố, người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật này. Trường hợp làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản hoặc tiêu hao vật tư quá định mức thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc theo nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm. Đối với trường hợp thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa hoặc sự kiện khách quan khác không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép, người lao động không phải bồi thường.

Ví dụ thực tiễn: một nhân viên vận hành máy cắt trong xưởng sản xuất do bất cẩn làm gãy lưỡi dao trị giá 08 triệu đồng, trong khi mức lương tối thiểu vùng nơi doanh nghiệp đóng trụ sở là 4,68 triệu đồng/tháng. Thiệt hại chưa vượt quá 10 tháng lương tối thiểu vùng (46,8 triệu đồng) và được xác định là sơ suất không nghiêm trọng, nên người lao động chỉ phải bồi thường tối đa 03 tháng tiền lương của mình, không phải bồi thường toàn bộ giá trị thiệt hại.

Bên cạnh đó, Điều 130 Bộ luật Lao động 2019 quy định trường hợp người lao động gây thiệt hại nghiêm trọng do sơ suất hoặc gây thiệt hại do cố ý thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại theo quy định của pháp luật. Tiêu chí xác định thiệt hại nghiêm trọng được hướng dẫn tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP, theo đó thiệt hại nghiêm trọng là trường hợp giá trị thiệt hại vượt quá 10 tháng lương tối thiểu vùng, hoặc gây hậu quả làm ngừng sản xuất, kinh doanh của một bộ phận, dây chuyền hoặc toàn bộ doanh nghiệp, hoặc gây thiệt hại về người, tài sản của bên thứ ba.

Về căn cứ phát sinh trách nhiệm, Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Mức bồi thường thiệt hại

Mức bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra được xác định theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại thực tế, trực tiếp và có giới hạn theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, cụ thể tại Điều 129 và Điều 130.

Khoản 1 Điều 129 Bộ luật Lao động quy định trường hợp người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động. Trường hợp gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Bộ luật này.

Khoản 2 Điều 129 quy định trường hợp người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao thì phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm. Trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa hoặc sự kiện khách quan khác không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì người lao động không phải bồi thường.

Điều 130 Bộ luật Lao động quy định mức khấu trừ tiền lương hằng tháng để bồi thường thiệt hại không được quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Quy định này nhằm bảo đảm người lao động vẫn duy trì được mức thu nhập tối thiểu để bảo đảm cuộc sống trong thời gian thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Điều 585 Bộ luật Dân sự xác định nguyên tắc bồi thường: thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; người chịu trách nhiệm bồi thường có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

Ví dụ thực tiễn: Người lao động vận hành xe nâng do bất cẩn làm đổ kệ hàng, gây thiệt hại tài sản ước tính 80 triệu đồng, tương đương dưới 10 tháng lương tối thiểu vùng tại khu vực doanh nghiệp đóng trụ sở. Trong trường hợp này, mức bồi thường tối đa người lao động phải chịu là 03 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, không phải toàn bộ 80 triệu đồng.

4. Trách nhiệm bồi thường khi làm hư hỏng tài sản

1. Căn cứ pháp lý về trách nhiệm bồi thường khi làm hư hỏng tài sản

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động khi làm hư hỏng tài sản của người sử dụng lao động được quy định tại Điều 129 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, người lao động làm hư hỏng tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc theo nội quy lao động của người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 Bộ luật Lao động 2019.

Trường hợp người lao động làm mất tài sản được giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm. Quy định này được hướng dẫn chi tiết tại Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

2. Phân tích điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường

Về bản chất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động phát sinh khi hội đủ các yếu tố: có hành vi vi phạm (làm hư hỏng, làm mất tài sản); có thiệt hại thực tế xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại; và có lỗi của người lao động. Nguyên tắc này tương thích với quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó người nào có hành vi xâm phạm tài sản của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.

3. Ví dụ thực tiễn

Ví dụ, người lao động vận hành xe nâng trong kho do bất cẩn làm đổ kệ hàng, gây hư hỏng tài sản trị giá 20 triệu đồng. Nếu mức lương tối thiểu vùng tại địa bàn là 4,96 triệu đồng/tháng thì thiệt hại 20 triệu đồng chưa vượt quá 10 tháng lương tối thiểu vùng (49,6 triệu đồng), thuộc trường hợp thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất. Theo khoản 1 Điều 129 Bộ luật Lao động 2019, người lao động chỉ phải bồi thường tối đa 03 tháng tiền lương, và việc khấu trừ được thực hiện hằng tháng với mức không quá 30% tiền lương thực trả sau khi trích các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.

4. Lưu ý về mức bồi thường và thủ tục xử lý

Việc xác định mức bồi thường phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế của người lao động theo Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015.

5. Trách nhiệm bồi thường khi làm mất tài sản

Trong quan hệ lao động, người lao động có nghĩa vụ bảo quản tài sản, dụng cụ, thiết bị được người sử dụng lao động giao để thực hiện công việc. Khi làm mất tài sản, người lao động phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, trường hợp người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động. Trường hợp gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố, người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 1 Điều 129khoản 1 Điều 102 Bộ luật Lao động 2019. Mức khấu trừ không quá 30% tiền lương hằng tháng sau khi trừ các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.

Trường hợp người lao động làm mất tài sản có giá trị lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc có hành vi cố ý, trách nhiệm bồi thường được xác định theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại quy định tại Điều 130 Bộ luật Lao động 2019Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015. Người lao động phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản bị mất theo giá thị trường tại thời điểm xảy ra thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Việc xử lý bồi thường phải tuân thủ trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP, bao gồm việc xác định giá trị thiệt hại, xem xét mức độ lỗi, hoàn cảnh thực tế của người lao động và tổ chức đối thoại trước khi ra quyết định bồi thường.

Ví dụ thực tiễn: nhân viên giao nhận được giao quản lý xe máy chuyên dụng của công ty, do sơ suất không khóa xe khi giao hàng dẫn đến xe bị mất. Nếu giá trị xe là 60 triệu đồng, vượt quá 10 tháng lương tối thiểu vùng, người lao động có thể phải bồi thường toàn bộ theo Điều 130.

6. Thủ tục xử lý bồi thường

Thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra được thực hiện trên nguyên tắc thương lượng, hòa giải trước khi khởi kiện tại Tòa án. Căn cứ Điều 129 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định pháp luật hoặc nội quy lao động. Trường hợp gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng, mức bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo Điều 129 và khoản 1 Điều 102 Bộ luật Lao động 2019, mức khấu trừ không quá 30% tiền lương hằng tháng sau khi trích các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.

Về trình tự, người sử dụng lao động phải xác định giá trị thiệt hại, mức độ lỗi của người lao động và tổ chức phiên họp xử lý bồi thường có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn việc xác định giá trị thiệt hại phải căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm xảy ra thiệt hại hoặc biên bản kiểm kê, định giá tài sản; đồng thời yêu cầu lập biên bản ghi nhận sự việc, ý kiến của các bên và quyết định bồi thường bằng văn bản. Nếu người lao động không đồng ý với mức bồi thường, hai bên có thể yêu cầu hòa giải viên lao động hoặc Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo Điều 188 và Điều 189 Bộ luật Lao động 2019. Khi hòa giải không thành, tranh chấp được giải quyết tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo thủ tục tố tụng dân sự.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại có yếu tố ngoài hợp đồng, áp dụng Điều 584 và Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường và nguyên tắc bồi thường toàn bộ, kịp thời.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Lao động 2019 (45/2019/QH14) - Điều 129-130 về bồi thường thiệt hại
  • Bộ luật Dân sự 2015 - Điều 584-585 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
  • Nghị định 145/2020/NĐ-CP - hướng dẫn xử lý bồi thường
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp