Điều 13. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả 1. Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã tồn tại, thể hiện sự sáng tạo mới của tác giả trong quá trình chuyển hóa, biên soạn, cải biên hoặc chuyển thể tác phẩm gốc. Theo khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm phái sinh bao gồm tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.
Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ quy định rõ: tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Điều này có nghĩa việc tạo ra tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm gốc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời, tác phẩm phái sinh phải do chính tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình, không được sao chép từ tác phẩm của người khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 14.
Ví dụ thực tiễn: một tiểu thuyết văn học Việt Nam được dịch sang tiếng Anh là tác phẩm phái sinh dưới hình thức tác phẩm dịch; một kịch bản sân khấu được chuyển thể thành phim điện ảnh là tác phẩm phái sinh dưới hình thức chuyển thể; một tuyển tập thơ gồm các bài thơ của nhiều tác giả khác nhau, được tuyển chọn và sắp xếp theo chủ đề, là tác phẩm phái sinh dưới hình thức tuyển chọn. Trong mọi trường hợp, tác giả của tác phẩm phái sinh được hưởng quyền tác giả đối với phần sáng tạo mới của mình, nhưng không được xâm phạm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả tác phẩm gốc theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.
Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ nếu đáp ứng đồng thời hai điều kiện: không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh và bản thân tác phẩm phái sinh có tính sáng tạo riêng.
Thứ nhất, điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Điều này có nghĩa việc tạo ra tác phẩm phái sinh phải được sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc, trừ trường hợp thuộc ngoại lệ theo quy định. Nếu tác phẩm phái sinh được tạo ra trái phép, xâm phạm quyền nhân thân hoặc quyền tài sản của tác giả tác phẩm gốc, thì tác phẩm phái sinh đó không được bảo hộ. Ví dụ, việc dịch một cuốn tiểu thuyết sang tiếng Việt mà không xin phép tác giả là hành vi xâm phạm quyền làm tác phẩm phái sinh theo Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ, do đó bản dịch không được pháp luật bảo hộ.
Thứ hai, điều kiện về tính sáng tạo riêng của tác phẩm phái sinh. Tác phẩm phái sinh phải do chính tác giả sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình, thể hiện dấu ấn cá nhân trong cách chuyển thể, biên soạn, chuyển ngữ, phóng tác, cải biên. Tính sáng tạo không đòi hỏi phải là sự mới mẻ tuyệt đối, nhưng phải phân biệt được với tác phẩm gốc và không sao chép nguyên văn từ tác phẩm khác. Ví dụ, một bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết có kịch bản, lời thoại, hình ảnh được xây dựng mới, mang dấu ấn của đạo diễn và biên kịch, thì được bảo hộ như một tác phẩm điện ảnh độc lập.
Như vậy, hai điều kiện trên mang tính bắt buộc và có mối quan hệ chặt chẽ: tác phẩm phái sinh phải hợp pháp về nguồn gốc và phải có sự sáng tạo riêng về nội dung, hình thức thể hiện. Thiếu một trong hai điều kiện, tác phẩm phái sinh không thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả.
Tác giả của tác phẩm phái sinh được hưởng quyền tác giả đối với phần sáng tạo của mình theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ: “Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.” Quy định này xác lập nguyên tắc nền tảng: quyền của tác giả tác phẩm phái sinh tồn tại độc lập nhưng có điều kiện, không được xâm phạm quyền của tác giả tác phẩm gốc.
Về phạm vi quyền, tác giả tác phẩm phái sinh được hưởng đầy đủ quyền nhân thân và quyền tài sản theo Điều 19 và Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ đối với phần sáng tạo mới do mình tạo ra. Cụ thể, theo Điều 20, tác giả có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền: làm tác phẩm phái sinh từ chính tác phẩm phái sinh đó, biểu diễn tác phẩm trước công chúng, sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. Tuy nhiên, quyền tài sản này chỉ phát sinh đối với phần sáng tạo mới, không bao trùm phần nội dung thuộc tác phẩm gốc.
Ví dụ thực tiễn: một dịch giả dịch tiểu thuyết nước ngoài sang tiếng Việt được bảo hộ quyền tác giả đối với bản dịch theo điểm a khoản 1 Điều 14. Dịch giả có quyền đứng tên trên bản dịch, quyền cho phép nhà xuất bản sao chép, phân phối bản dịch. Nhưng dịch giả không thể tự mình cho phép bên thứ ba chuyển thể bản dịch thành kịch bản phim nếu chưa được sự đồng ý của tác giả tiểu thuyết gốc, vì việc chuyển thể đó đồng thời khai thác tác phẩm gốc. Tương tự, tác giả bài hát phối lại (remix) từ ca khúc gốc có quyền đối với phần phối khí mới, nhưng khi cấp phép sử dụng bản phối lại cho mục đích thương mại phải được sự cho phép của tác giả ca khúc gốc.
Như vậy, quyền của tác giả tác phẩm phái sinh mang tính độc lập tương đối: được bảo hộ đầy đủ đối với phần sáng tạo mới, nhưng việc khai thác thương mại tác phẩm phái sinh luôn phải tôn trọng quyền tác giả của tác phẩm gốc theo khoản 3 Điều 13.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ, tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Quy định này đặt ra nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân muốn tạo ra tác phẩm phái sinh: phải xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm gốc trước khi thực hiện việc chuyển thể, biên soạn, cải biên, chuyển nhượng quyền tác giả.
Nghĩa vụ xin phép xuất phát từ bản chất của quyền tài sản quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Khoản 1 Điều 20 quy định quyền tài sản bao gồm quyền làm tác phẩm phái sinh. Khoản 2 Điều 20 xác định rõ: tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Như vậy, việc làm tác phẩm phái sinh là một hình thức khai thác quyền tài sản độc quyền của tác giả tác phẩm gốc, không thể tự ý thực hiện nếu không có sự cho phép.
Ví dụ thực tiễn: một đạo diễn muốn chuyển thể tiểu thuyết thành kịch bản phim phải ký hợp đồng xin phép tác giả tiểu thuyết và trả thù lao theo thỏa thuận. Nếu không xin phép, việc chuyển thể bị coi là xâm phạm quyền tác giả, dù tác phẩm phái sinh có giá trị sáng tạo độc lập. Tương tự, việc dịch một cuốn sách nước ngoài sang tiếng Việt để xuất bản đòi hỏi phải được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả bản gốc.
Nghĩa vụ xin phép không bị triệt tiêu bởi việc tác phẩm phái sinh được bảo hộ độc lập. Khoản 2 Điều 14 khẳng định tác phẩm phái sinh được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm gốc, nghĩa là sự bảo hộ dành cho tác phẩm phái sinh luôn tồn tại song song và phụ thuộc vào tính hợp pháp của việc xin phép. Trường hợp tác phẩm gốc đã hết thời hạn bảo hộ, tác phẩm thuộc phạm vi công cộng thì không phát sinh nghĩa vụ xin phép, nhưng vẫn phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả theo quy định tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ.
Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam ghi nhận một số trường hợp sử dụng tác phẩm phái sinh mà không cần xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả của tác phẩm gốc. Các ngoại lệ này được quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ (các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả), áp dụng chung cho việc sử dụng tác phẩm, bao gồm cả tác phẩm phái sinh quy định tại Điều 13 và các loại hình tác phẩm được bảo hộ theo Điều 14.
Thứ nhất, việc tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân (điểm a khoản 1 Điều 25) cho phép cá nhân sao chép một phần hoặc toàn bộ tác phẩm phái sinh để phục vụ học tập, nghiên cứu mà không cần xin phép tác giả của tác phẩm gốc lẫn tác giả của tác phẩm phái sinh. Ví dụ, một sinh viên tự in một bản dịch tác phẩm văn học nước ngoài để phục vụ nghiên cứu cá nhân thì không bị coi là xâm phạm quyền tác giả.
Thứ hai, việc trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, minh họa (điểm b khoản 1 Điều 25) cho phép trích dẫn một phần tác phẩm phái sinh trong các bài viết, công trình nghiên cứu, với điều kiện phải ghi rõ nguồn gốc, tên tác giả. Chẳng hạn, một bài phê bình điện ảnh có thể trích dẫn một đoạn ngắn từ kịch bản phim chuyển thể mà không cần xin phép.
Thứ ba, việc sử dụng tác phẩm trong hoạt động giảng dạy không nhằm mục đích thương mại (điểm d khoản 1 Điều 25) cho phép giáo viên sử dụng tác phẩm phái sinh để minh họa bài giảng trong phạm vi lớp học, không thu phí.
Thứ tư, việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích thông tin thời sự (điểm đ khoản 1 Điều 25) cho phép cơ quan báo chí sử dụng tác phẩm phái sinh trong các bản tin, bài báo mang tính thời sự mà không cần xin phép.
Cần lưu ý, các ngoại lệ nêu trên không áp dụng đối với việc sử dụng tác phẩm phái sinh nhằm mục đích thương mại hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm gốc, cũng như không gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả theo quy định tại khoản 2 Điều 25. Việc xác định phạm vi ngoại lệ phải được cân nhắc trên nguyên tắc không xung đột với việc khai thác quyền tài sản của tác giả quy định tại Điều 20.
Việc xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh được thực hiện trên nguyên tắc: tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Khi xảy ra vi phạm, chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm.
Về biện pháp dân sự, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có quyền yêu cầu Tòa án buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại, tiêu hủy hoặc buộc phân phối hàng hóa xâm phạm. Thiệt hại được xác định bao gồm tổn thất về tài sản, thu nhập bị mất, cơ hội kinh doanh và chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Về biện pháp hành chính, hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, với các hình thức phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm. Trường hợp hành vi xâm phạm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ thực tiễn: một cá nhân dịch một cuốn tiểu thuyết nước ngoài sang tiếng Việt mà không xin phép tác giả gốc, sau đó tự ý xuất bản, kinh doanh bản dịch. Bản dịch là tác phẩm phái sinh theo Điều 13, nhưng việc khai thác bản dịch khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm gốc là hành vi xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20. Chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc khai thác trái phép bản dịch đó.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.