Người lao động chưa thành niên: quy định và bảo vệ | Công ty Luật Minh Bạch

Người lao động chưa thành niên: quy định và bảo vệ

Lao động · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Lao động chưa thành niên là ai
  2. Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
  3. Công việc và nơi làm việc cấm
  4. Thời giờ làm việc của lao động chưa thành niên
  5. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động
  6. Xử phạt vi phạm

Điều 143. Lao động chưa thành niên 1. Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi. 2. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc quy định tại Điều 147 của Bộ luật này. 3. Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. 4. Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Lao động chưa thành niên là ai

Lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi tham gia quan hệ lao động theo quy định của pháp luật. Bộ luật Lao động năm 2019 không đưa ra định nghĩa riêng biệt tại một điều khoản duy nhất mà xác định khái niệm này thông qua tổng hợp các quy định tại Mục 1 Chương XI (từ Điều 143 đến Điều 147) và các điều khoản liên quan về độ tuổi lao động tối thiểu.

Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI. Như vậy, lao động chưa thành niên bao gồm hai nhóm chính: nhóm từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổinhóm dưới 15 tuổi trong các trường hợp pháp luật cho phép. Điều 143 quy định nguyên tắc chung: lao động chưa thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe, bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, sức khỏe, học tập.

Đối với nhóm dưới 15 tuổi, Điều 145 cho phép người sử dụng lao động sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành, nhưng không được làm việc quá thời giờ quy định và phải bảo đảm điều kiện học tập. Người dưới 13 tuổi chỉ được làm các công việc nghệ thuật, thể dục thể thao theo quy định tại khoản 3 Điều 145, với điều kiện không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động.

Ví dụ thực tiễn: một học sinh 14 tuổi làm công việc phát tờ rơi quảng cáo tại cửa hàng là lao động chưa thành niên thuộc nhóm từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi, chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục quy định tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Một người 17 tuổi làm nhân viên pha chế tại quán cà phê thuộc nhóm từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, được làm việc nhưng bị giới hạn về thời giờ làm việc và công việc cấm theo Điều 146, Điều 147.

Như vậy, lao động chưa thành niên là đối tượng đặc thù được pháp luật bảo vệ chặt chẽ hơn so với người lao động thành niên, thể hiện qua các quy định về công việc được làm, thời giờ làm việc, điều kiện lao động và trách nhiệm của người sử dụng lao động.

2. Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên

Việc sử dụng lao động chưa thành niên phải tuân thủ các nguyên tắc nền tảng được quy định tại Điều 143 Bộ luật Lao động 2019. Theo đó, lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi. Nguyên tắc quan trọng nhất là người sử dụng lao động chỉ được sử dụng lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe, thể chất, trí tuệ và sự phát triển toàn diện của họ; đồng thời phải bảo đảm sự phát triển về thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động.

Khi sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu. Nguyên tắc này được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 144 Bộ luật Lao động 2019 và hướng dẫn tại Điều 4 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Một nguyên tắc cốt lõi khác là nghiêm cấm sử dụng lao động chưa thành niên làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách; danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên được quy định tại Điều 147 Bộ luật Lao động 2019 và Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH. Ví dụ thực tiễn, doanh nghiệp không được bố trí lao động 16 tuổi vận hành máy cưa, máy dập, làm việc trong hầm lò hoặc tiếp xúc với hóa chất độc hại; nếu vi phạm sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

Ngoài ra, nguyên tắc về thời giờ làm việc cũng được áp dụng riêng đối với lao động chưa thành niên. Theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Lao động 2019, thời giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần; đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, thời giờ làm việc không quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần. Người sử dụng lao động cũng không được yêu cầu lao động chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ một số nghề, công việc đặc thù theo quy định tại Điều 146 và Điều 147 Bộ luật Lao động 2019.

Tóm lại, các nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên xoay quanh ba trụ cột: bảo đảm công việc phù hợp với sự phát triển, hạn chế tối đa rủi ro về sức khỏe và an toàn, kiểm soát chặt chẽ thời giờ làm việc. Việc tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc này không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội của người sử dụng lao động đối với thế hệ lao động trẻ.

3. Công việc và nơi làm việc cấm

Công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên được quy định tại Điều 147 Bộ luật Lao động 2019, cụ thể hóa tại Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Theo đó, người sử dụng lao động không được sử dụng người chưa thành niên làm các công việc sau đây:

Thứ nhất, mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên. Ví dụ, không được bố trí lao động dưới 15 tuổi khuân vác bao xi măng 50 kg, vì vượt quá khả năng thể chất, gây tổn hại đến sự phát triển xương, cơ của các em.

Thứ hai, sản xuất, kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thần hoặc chất gây nghiện khác. Quy định này nhằm ngăn ngừa người chưa thành niên tiếp xúc với môi trường độc hại, dễ bị lôi kéo vào tệ nạn xã hội.

Thứ ba, sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ. Công việc này tiềm ẩn nguy cơ tai nạn lao động nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người chưa thành niên.

Thứ tư, bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc, công cụ lao động nguy hiểm; phá dỡ các công trình xây dựng; sản xuất, kinh doanh, sử dụng, khai thác các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.

Thứ năm, làm việc ở nơi làm việc không đáp ứng tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động, bao gồm: nơi chật hẹp, ngầm, trên cao, dưới nước, nơi có phóng xạ, điện từ trường, tiếng ồn, độ rung vượt quá giới hạn cho phép; nơi có nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp.

Ngoài ra, Điều 147 còn cấm sử dụng người chưa thành niên làm công việc tiếp xúc với yếu tố độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành. Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép làm một số công việc nhất định nhưng phải bảo đảm điều kiện làm việc, thời giờ làm việc theo quy định riêng tại Điều 146 Bộ luật Lao động 2019.

Việc quy định cụ thể các công việc và nơi làm việc cấm thể hiện nguyên tắc bảo vệ đặc biệt đối với lao động chưa thành niên, bảo đảm các em được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần, phù hợp với Công ước số 182 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất mà Việt Nam là thành viên.

4. Thời giờ làm việc của lao động chưa thành niên

Thời giờ làm việc của lao động chưa thành niên được quy định chặt chẽ hơn so với lao động đã thành niên nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần của người chưa đủ 18 tuổi. Căn cứ khoản 1 Điều 146 Bộ luật Lao động 2019, thời giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không được quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần; không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, thời giờ làm việc không quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần; được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành nhưng không quá 01 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần.

Quy định này có ý nghĩa bảo vệ đặc biệt: người chưa thành niên đang trong giai đoạn phát triển, thời gian làm việc dài có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, khả năng học tập và cơ hội vui chơi, giải trí. Ví dụ thực tiễn: một học sinh 16 tuổi làm thêm tại cửa hàng tiện lợi chỉ được bố trí tối đa 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần; nếu cửa hàng yêu cầu làm thêm giờ, chỉ được áp dụng đối với công việc nằm trong danh mục cho phép và không vượt quá 01 giờ/ngày, 20 giờ/tuần. Trường hợp người sử dụng lao động bố trí lao động 14 tuổi làm việc 06 giờ/ngày là vi phạm pháp luật, có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

Điều 147 Bộ luật Lao động 2019 cũng yêu cầu người sử dụng lao động phải bảo đảm cho lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp; thời giờ làm việc phải được sắp xếp không ảnh hưởng đến việc học tập. Đồng thời, Điều 148 và Điều 149 Bộ luật Lao động 2019 quy định riêng về thời giờ làm việc đối với người lao động là người khuyết tật và lao động là người giúp việc gia đình, trong đó có nội dung liên quan đến lao động chưa thành niên thuộc các nhóm đặc thù này. Việc tuân thủ nghiêm ngặt quy định về thời giờ làm việc không chỉ là nghĩa vụ pháp lý của người sử dụng lao động mà còn góp phần phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo đảm quyền được phát triển lành mạnh của người lao động chưa thành niên.

5. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động

Quyền của người sử dụng lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên

Theo Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động được quyền tiếp nhận, bố trí công việc và sử dụng người lao động chưa thành niên phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và mức độ phát triển thể chất, trí tuệ của họ. Cụ thể, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động chưa thành niên thực hiện công việc theo thỏa thuận, tuân thủ nội quy lao động và kỷ luật lao động trong phạm vi pháp luật cho phép. Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, người sử dụng lao động được quyền giao kết hợp đồng lao động và thỏa thuận về tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi nhưng phải bảo đảm các điều kiện theo quy định tại Điều 145 Bộ luật Lao động 2019. Người sử dụng lao động cũng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc trong các lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Lao động 2019.

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ lao động chưa thành niên. Thứ nhất, khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc, người sử dụng lao động phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật; bố trí thời giờ làm việc không ảnh hưởng đến việc học tập; bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Lao động 2019. Thứ hai, người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Lao động 2019. Thứ ba, người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao theo quy định tại khoản 3 Điều 143 Bộ luật Lao động 2019 và không được sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với hóa chất độc hại theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.

Ví dụ thực tiễn

Một doanh nghiệp may mặc tại Bình Dương tuyển dụng lao động nữ 16 tuổi vào vị trí công nhân may. Doanh nghiệp phải bảo đảm thời giờ làm việc không quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Lao động 2019, đồng thời không được bố trí làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Trường hợp doanh nghiệp vi phạm, sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP và có thể bị đình chỉ hoạt động nếu gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, an toàn của người lao động chưa thành niên.

6. Xử phạt vi phạm

Vi phạm quy định về sử dụng lao động chưa thành niên bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Mức phạt được phân hóa theo tính chất, mức độ vi phạm, cụ thể như sau:

Thứ nhất, vi phạm về thời giờ làm việc. Người sử dụng lao động huy động người chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm hoặc làm việc quá thời giờ quy định tại Điều 146 Bộ luật Lao động năm 2019 (không quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần đối với người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi; không quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần đối với người từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi) thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Thứ hai, vi phạm về công việc, nơi làm việc bị cấm. Sử dụng người chưa thành niên làm công việc bị cấm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Lao động năm 2019 hoặc làm việc tại nơi làm việc bị cấm quy định tại Điều 148 Bộ luật Lao động năm 2019 thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng. Ví dụ, doanh nghiệp bố trí lao động 16 tuổi vận hành máy cán kim loại hoặc làm việc trong hầm lò là hành vi vi phạm thuộc nhóm này.

Thứ ba, vi phạm về điều kiện lao động. Không bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2019 thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Thứ tư, vi phạm về hồ sơ, sổ sách. Không lập sổ theo dõi riêng hoặc không xuất trình sổ theo dõi khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu theo quy định tại khoản 3 Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2019 thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Ngoài phạt tiền, người sử dụng lao động còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như buộc trả lại khoản tiền đã thu của người lao động, buộc bố trí lại công việc phù hợp. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, người sử dụng lao động có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Lao động 2019 (45/2019/QH14) - Điều 143-147 về lao động chưa thành niên
  • Bộ luật Lao động 2019 - Điều 148-149 về một số loại lao động đặc thù
  • Nghị định 145/2020/NĐ-CP - hướng dẫn lao động chưa thành niên
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp