Điều 629. Di chúc miệng 1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. 2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Di chúc miệng chỉ được lập trong hoàn cảnh đặc biệt, khi tính mạng của người để lại di sản bị đe dọa nghiêm trọng và họ không thể lập di chúc bằng văn bản. Khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: trường hợp tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Như vậy, pháp luật đòi hỏi đồng thời hai điều kiện: (i) người lập di chúc đang ở trong tình trạng nguy kịch đến tính mạng; và (ii) không thể thực hiện việc lập di chúc bằng văn bản.
Ví dụ thực tiễn: một người bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, đang được cấp cứu trong bệnh viện, tiên lượng không qua khỏi, không đủ sức để viết hoặc ký tên, có thể di chúc miệng trước mặt ít nhất hai người làm chứng. Ngược lại, người bệnh nặng nhưng vẫn tỉnh táo, vẫn có khả năng đọc, viết thì phải lập di chúc bằng văn bản; di chúc miệng trong trường hợp này không đáp ứng điều kiện “không thể lập di chúc bằng văn bản”.
Về hình thức, khoản 2 Điều 629 yêu cầu sau ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ. Quy định này nhằm bảo đảm di chúc miệng chỉ là giải pháp tạm thời trong tình thế cấp bách, không thay thế di chúc bằng văn bản khi người lập đã hồi phục.
Ngoài ra, di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ điều kiện tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó có yêu cầu người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Đặc biệt, Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người làm chứng cho việc lập di chúc miệng phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; đồng thời loại trừ người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc, người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
Di chúc miệng chỉ được pháp luật công nhận trong hoàn cảnh đặc biệt, khi tính mạng của người lập di chúc bị đe dọa nghiêm trọng do bệnh tật hoặc nguyên nhân khách quan khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản. Đây là quy định tại khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015. Như vậy, điều kiện tiên quyết mang tính loại trừ là: người lập di chúc phải đang ở trong tình trạng nguy kịch đến mức không còn khả năng thực hiện các hình thức di chúc khác. Ví dụ, một người bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, đang được cấp cứu và tiên lượng không qua khỏi, có thể lập di chúc miệng trước mặt người làm chứng.
Điều kiện thứ hai liên quan đến người làm chứng. Khoản 2 Điều 629 yêu cầu di chúc miệng phải được lập trước mặt ít nhất hai người làm chứng. Ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, những người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản ghi chép đó. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí, văn bản ghi chép phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. Đây là thủ tục bắt buộc nhằm bảo đảm tính xác thực của di chúc miệng.
Điều kiện thứ ba là tư cách của người làm chứng phải tuân thủ Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, người làm chứng không được là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; không được là người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; và không được là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ví dụ, con trai của người lập di chúc không thể làm chứng cho di chúc miệng mà trong đó người con này được hưởng phần lớn tài sản.
Điều kiện thứ tư là di chúc miệng phải đáp ứng các điều kiện chung về di chúc hợp pháp quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015. Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Ngoài ra, theo khoản 5 Điều 630, di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng còn sống, minh mẫn, sáng suốt sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc. Nếu sau 03 tháng mà người lập di chúc vẫn còn sống và minh mẫn thì di chúc miệng đương nhiên bị hủy bỏ.
Đối với di chúc miệng, người làm chứng giữ vai trò đặc biệt quan trọng vì đây là chủ thể trực tiếp ghi nhận ý chí của người di chúc trong tình trạng khẩn cấp, đồng thời bảo đảm tính khách quan cho việc xác lập di chúc. Khoản 4 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Như vậy, sự có mặt của người làm chứng là điều kiện bắt buộc về mặt hình thức, thiếu điều kiện này di chúc miệng không phát sinh hiệu lực pháp luật.
Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 xác định rõ phạm vi người không được làm chứng cho việc lập di chúc, bao gồm: người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Quy định này nhằm loại trừ xung đột lợi ích, bảo đảm người làm chứng phải ở vị thế trung lập, không bị chi phối bởi quyền lợi vật chất phát sinh từ di chúc.
Ví dụ thực tiễn: ông A bị tai nạn nghiêm trọng, trong tình trạng nguy kịch tại bệnh viện, ông tuyên bố miệng để lại toàn bộ tài sản cho con gái là chị B. Hai y tá trực ca không thuộc diện thừa kế của ông A làm chứng, ghi chép lại nội dung và cùng ký tên. Trường hợp này đáp ứng điều kiện về người làm chứng. Ngược lại, nếu người làm chứng là chị B (người thừa kế theo di chúc) thì di chúc miệng bị vô hiệu do vi phạm Điều 632.
Người làm chứng còn có nghĩa vụ ghi chép trung thực, đầy đủ nội dung ý chí của người di chúc và ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, di chúc miệng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng theo khoản 5 Điều 630.
Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, việc ghi chép di chúc miệng phải do người làm chứng thực hiện ngay sau khi người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng. Người làm chứng có trách nhiệm ghi chép trung thực, đầy đủ nội dung mà người di chúc đã tuyên bố, sau đó cùng ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản ghi chép. Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ những người không được làm chứng, bao gồm: người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Quy định này nhằm bảo đảm tính khách quan, trung thực của việc ghi chép, tránh xung đột lợi ích giữa người làm chứng và nội dung di chúc.
Về thủ tục công chứng, chứng thực, khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu di chúc miệng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng. Việc xác nhận này không phải là công chứng, chứng thực nội dung di chúc mà chỉ xác nhận tư cách, chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng trên văn bản ghi chép. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực không chịu trách nhiệm về tính xác thực của nội dung di chúc, mà chỉ xác nhận việc ghi chép do đúng người làm chứng thực hiện.
Ví dụ thực tiễn: Ông A bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, trong tình trạng nguy kịch tại bệnh viện, ông tuyên bố miệng để lại toàn bộ tài sản cho con gái là chị B. Hai y tá trực ca không thuộc diện thừa kế của ông A đã ghi chép lại nội dung di chúc, cùng ký tên. Trong vòng 05 ngày làm việc, một trong hai người làm chứng mang văn bản ghi chép đến Ủy ban nhân dân cấp xã để chứng thực chữ ký. Nếu quá thời hạn 05 ngày mà chưa thực hiện chứng thực, di chúc miệng sẽ không còn giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, việc ghi chép và công chứng, chứng thực di chúc miệng là hai khâu liên tiếp, bắt buộc và có tính quyết định đến hiệu lực pháp lý của di chúc. Người làm chứng phải ghi chép kịp thời, trung thực; cơ quan có thẩm quyền phải xác nhận trong thời hạn luật định.
Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó có điều kiện về thời hạn hiệu lực. Cụ thể, khoản 1 Điều 629 quy định di chúc miệng chỉ được lập trong trường hợp tính mạng của người để lại di sản bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản. Điều kiện này giới hạn phạm vi áp dụng của di chúc miệng, đồng thời xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của loại di chúc này gắn liền với tình trạng khẩn cấp, nguy cấp của người lập di chúc.
Về thời hạn hiệu lực, khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.” Như vậy, thời hạn 05 ngày làm việc là thời hạn bắt buộc để hoàn tất thủ tục chứng thực chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. Việc tuân thủ đúng thời hạn này là một trong các điều kiện tiên quyết để di chúc miệng được công nhận là hợp pháp.
Ví dụ thực tiễn: Ông A bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, được đưa vào bệnh viện trong tình trạng nguy kịch. Ngày 02/3/2025 (Chủ nhật), ông A tuyên bố di chúc miệng trước hai người làm chứng là ông B và bà C. Ngay sau đó, ông B và bà C ghi chép lại nội dung di chúc và cùng ký tên. Thời hạn 05 ngày làm việc được tính từ ngày 03/3/2025 (thứ Hai) đến hết ngày 07/3/2025 (thứ Sáu). Trong khoảng thời gian này, ông B và bà C phải đến tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chứng thực chữ ký. Nếu quá thời hạn nêu trên mà chưa hoàn tất việc chứng thực, di chúc miệng của ông A sẽ không được công nhận là hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 còn quy định: “Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.” Quy định này xác lập một giới hạn thời gian đặc thù đối với hiệu lực của di chúc miệng. Theo đó, nếu người lập di chúc vẫn còn sống và ở trạng thái minh mẫn, sáng suốt sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc miệng, di chúc miệng đương nhiên chấm dứt hiệu lực mà không cần bất kỳ thủ tục tuyên bố hủy bỏ nào. Quy định này xuất phát từ bản chất tạm thời của di chúc miệng, vốn chỉ được lập trong tình huống khẩn cấp không thể lập di chúc bằng văn bản. Khi tình trạng khẩn cấp đã chấm dứt và người lập di chúc có đủ điều kiện để lập di chúc bằng văn bản, pháp luật ưu tiên hình thức di chúc bằng văn bản nhằm bảo đảm tính xác thực, rõ ràng và tránh tranh chấp về sau.
Như vậy, thời hạn hiệu lực của di chúc miệng được xác định qua hai mốc pháp lý quan trọng: thời hạn 05 ngày làm việc để chứng thực chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng theo khoản 5 Điều 630 và thời hạn 03 tháng để di chúc miệng đương nhiên bị hủy bỏ theo khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015.
Di chúc miệng là hình thức lập di chúc đặc biệt, chỉ được pháp luật thừa nhận trong hoàn cảnh tính mạng của người lập di chúc bị đe dọa nghiêm trọng đến mức không thể lập di chúc bằng văn bản. Chính tính chất khẩn cấp và hình thức truyền đạt bằng lời nói đã làm phát sinh nhiều rủi ro pháp lý đáng kể, có thể dẫn đến hậu quả di chúc bị tuyên bố vô hiệu hoặc không được công nhận.
Thứ nhất, rủi ro về điều kiện có hiệu lực. Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về người lập di chúc, nội dung di chúc và hình thức di chúc. Đặc biệt, khoản 5 Điều 630 quy định di chúc miệng chỉ có giá trị khi người lập di chúc ở trong tình trạng "tính mạng bị cái chết đe dọa" và không thể lập di chúc bằng văn bản. Nếu sau đó người lập di chúc vẫn còn sống, minh mẫn, sáng suốt sau 03 tháng kể từ thời điểm lập di chúc miệng mà không lập di chúc bằng văn bản thay thế, di chúc miệng đương nhiên bị hủy bỏ. Đây là rủi ro lớn nhất: nhiều người lầm tưởng di chúc miệng có giá trị vĩnh viễn, dẫn đến tranh chấp khi người lập di chúc qua đời sau thời hạn này.
Thứ hai, rủi ro về người làm chứng. Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu di chúc miệng phải được lập trước mặt ít nhất hai người làm chứng, và những người này phải đủ điều kiện theo quy định. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc, người có quyền và nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc, người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự đều không được làm chứng. Việc lựa chọn người làm chứng không đủ tư cách là lỗi phổ biến, khiến di chúc miệng bị vô hiệu ngay cả khi nội dung phản ánh đúng ý chí của người lập di chúc.
Thứ ba, rủi ro về chứng minh nội dung di chúc. Di chúc miệng không tồn tại dưới dạng văn bản gốc, nội dung chỉ được ghi nhận qua lời kể của người làm chứng. Điều này dẫn đến nguy cơ sai lệch, thiếu trung thực hoặc không đầy đủ khi người làm chứng ghi chép lại nội dung di chúc. Trên thực tế, nhiều vụ tranh chấp thừa kế phát sinh do lời khai của những người làm chứng mâu thuẫn nhau, không thể xác định chính xác ý chí cuối cùng của người để lại di sản.
Thứ tư, rủi ro về thủ tục công chứng, chứng thực. Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu ngay sau khi nghe người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ và trong thời hạn 05 ngày làm việc phải đến công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực để xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ. Việc không tuân thủ đúng trình tự, thời hạn này khiến di chúc miệng không được công nhận về mặt hình thức, dẫn đến vô hiệu.
Tóm lại, di chúc miệng tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất cao về điều kiện có hiệu lực, tư cách người làm chứng, khả năng chứng minh nội dung và thủ tục chứng thực.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.