Điều 60 BLTTHS 2015: Bị can | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 60 BLTTHS 2015: Bị can

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Khái niệm bị can
  2. Thời điểm xác định tư cách bị can
  3. Quyền của bị can
  4. Nghĩa vụ của bị can
  5. Bảo vệ quyền lợi cho bị can

Điều 60. Bị can 1. Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này. 2. Bị can có quyền: a) Được biết lý do mình bị khởi tố; b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này; c) Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này; d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; g) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa; i) Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Khái niệm bị can

Khái niệm bị can được quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (số 101/2015/QH13, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 17/2026/VBHN-VPQH). Theo đó, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Tư cách bị can phát sinh kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự và chấm dứt khi vụ án được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Về bản chất pháp lý, bị can là người tham gia tố tụng ở giai đoạn điều tra, truy tố, chưa bị đưa ra xét xử. Khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tư cách tố tụng của bị can chuyển hóa thành bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự. Sự chuyển hóa này phản ánh nguyên tắc phân định rõ địa vị pháp lý của người bị buộc tội theo từng giai đoạn tố tụng, bảo đảm quyền bào chữa và quyền được xét xử công bằng.

Ví dụ thực tiễn: Ông A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định khởi tố bị can về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự. Từ thời điểm này, ông A có tư cách bị can, được hưởng các quyền quy định tại khoản 2 Điều 60 như quyền được biết lý do bị khởi tố, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, quyền đưa ra chứng cứ, khiếu nại quyết định tố tụng. Trường hợp ông A là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần mà không tự mình lựa chọn người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền phải chỉ định người bào chữa theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi Viện kiểm sát truy tố và Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông A trở thành bị cáo.

Việc xác định đúng tư cách bị can có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân của người bị buộc tội, đồng thời xác định đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

2. Thời điểm xác định tư cách bị can

Tư cách bị can được xác định tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành quyết định khởi tố bị can. Căn cứ khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Như vậy, thời điểm phát sinh tư cách bị can không phụ thuộc vào hành vi phạm tội xảy ra khi nào, cũng không phụ thuộc vào việc người đó đã bị bắt, bị tạm giữ hay chưa, mà phụ thuộc vào hiệu lực pháp lý của quyết định khởi tố bị can do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Quyết định khởi tố bị can có hiệu lực kể từ thời điểm được ký, ban hành hợp pháp. Kể từ thời điểm này, người bị khởi tố chính thức có tư cách bị can, phát sinh đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm quyền được biết lý do bị khởi tố, quyền được bào chữa, quyền khiếu nại quyết định khởi tố, quyền đọc và ghi chép tài liệu liên quan đến việc buộc tội, và nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền.

Ví dụ thực tiễn: Ngày 10 tháng 3, cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản. Đến ngày 25 tháng 3, cơ quan điều tra mới ban hành quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A. Trong khoảng thời gian từ ngày 10 đến ngày 25 tháng 3, A chưa có tư cách bị can, chỉ có thể tham gia tố tụng với tư cách người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Tư cách bị can của A chỉ phát sinh từ ngày 25 tháng 3, thời điểm quyết định khởi tố bị can được ban hành.

Thời điểm xác định tư cách bị can có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng, đồng thời là căn cứ để áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự. Tư cách bị can chấm dứt khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với bị can, hoặc khi Viện kiểm sát ra cáo trạng truy tố và Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, lúc này tư cách tố tụng chuyển thành bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

3. Quyền của bị can

Quyền của bị can được quy định tại khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH), bao gồm các nhóm quyền cơ bản nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng và quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra, truy tố.

Thứ nhất, bị can có quyền được biết lý do mình bị khởi tố; được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; được nhận quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, các quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, bản kết luận điều tra, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định. Đây là tiền đề để bị can thực hiện các quyền tiếp theo, bảo đảm không bị buộc tội một cách bất ngờ, thiếu minh bạch.

Thứ hai, bị can có quyền trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Ví dụ, trong quá trình điều tra, bị can có thể cung cấp chứng cứ chứng minh ngoại phạm hoặc yêu cầu giám định lại đối với kết luận giám định mà mình cho là chưa khách quan.

Thứ ba, bị can có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa hoặc người khác bào chữa. Trường hợp bị can thuộc diện quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (như bị can về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; người có nhược điểm về thể chất, tâm thần; người dưới 18 tuổi) mà không tự mình lựa chọn được người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ. Quyền này bảo đảm sự bình đẳng về vị thế tố tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội.

Ngoài ra, bị can còn có quyền đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội; tham gia phiên tòa; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật. So với bị cáo quy định tại Điều 61, quyền của bị can tập trung vào giai đoạn trước xét xử, trong khi bị cáo có thêm các quyền gắn với hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.

4. Nghĩa vụ của bị can

Bị can là người hoặc pháp nhân thương mại bị khởi tố về hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bên cạnh các quyền tố tụng, bị can phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý nhằm bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử diễn ra đúng trình tự, thủ tục luật định.

Theo khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị can có nghĩa vụ: có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Ví dụ, khi được triệu tập để lấy lời khai, hỏi cung, đối chất, nhận dạng, bị can phải có mặt đúng thời gian, địa điểm; nếu cố tình vắng mặt, cơ quan điều tra có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định.

Bị can cũng có nghĩa vụ chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nghĩa vụ này bao gồm việc tuân thủ lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ tài liệu, đồ vật, phong tỏa tài khoản và các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế khác. Việc chống đối, không chấp hành có thể dẫn đến áp dụng biện pháp cưỡng chế tương ứng hoặc bị xử lý theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bị can phải khai báo trung thực về những tình tiết liên quan đến vụ án. Mặc dù bị can có quyền im lặng và không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình, nhưng khi đã khai báo, việc khai báo gian dối có thể bị xem xét là tình tiết đánh giá thái độ khai báo, ảnh hưởng đến việc áp dụng tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi lượng hình.

Khi trở thành bị cáo theo Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các nghĩa vụ nêu trên tiếp tục được duy trì và bổ sung nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, chấp hành quyết định của Tòa án. Trường hợp bị can, bị cáo thuộc diện chỉ định người bào chữa theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc thực hiện nghĩa vụ tố tụng không làm mất đi quyền được bào chữa; cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải bảo đảm quyền này theo luật định.

5. Bảo vệ quyền lợi cho bị can

Quyền lợi của bị can được bảo vệ trước hết thông qua hệ thống quyền mà Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trao cho họ. Bị can có quyền được biết lý do bị khởi tố, được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; quyền trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đây là nền tảng pháp lý để bị can không bị đối xử như đối tượng thụ động mà là chủ thể tham gia tố tụng có đầy đủ công cụ tự vệ.

Trọng tâm của cơ chế bảo vệ là quyền bào chữa. Điều 60 quy định bị can có quyền "tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa". Trường hợp bị can không thể tự bào chữa hoặc thuộc diện bắt buộc phải có người bào chữa theo Điều 76, cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa. Ví dụ, bị can bị truy tố về tội có mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình theo điểm a khoản 1 Điều 76; hoặc bị can là người có nhược điểm về thể chất, tâm thần, người chưa thành niên. Nếu cơ quan tố tụng không chỉ định, lời khai và các thủ tục liên quan có thể bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, dẫn đến chứng cứ bị loại trừ.

Quyền lợi của bị can còn được bảo vệ gián tiếp qua nguyên tắc suy đoán vô tội và nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội. Mọi nghi ngờ về lỗi, về tình tiết buộc tội phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị can. Khi chuyển sang giai đoạn xét xử, bị can trở thành bị cáo theo Điều 61, tiếp tục được hưởng các quyền bào chữa với phạm vi mở rộng hơn, như quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, quyền tranh luận tại phiên tòa.

Thực tiễn cho thấy hiệu quả bảo vệ quyền lợi phụ thuộc lớn vào việc cơ quan tố tụng thực hiện đúng nghĩa vụ giải thích quyền. Nhiều trường hợp bị can không biết mình có quyền im lặng, quyền yêu cầu luật sư có mặt khi lấy lời khai, dẫn đến lời khai bị ép buộc hoặc không tự nguyện. Vì vậy, việc tuân thủ nghiêm ngặt trình tự thông báo quyền ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên là điều kiện tiên quyết để quyền lợi của bị can được bảo đảm trên thực tế, không chỉ trên văn bản.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 60 về bị can
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 - Điều 61 về bị cáo, Điều 76 về chỉ định người bào chữa
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp