Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện. 2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau: a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ; b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ; c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện. 3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tê
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hình thức đơn khởi kiện được quy định tại khoản 2 Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Theo đó, cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện. Trường hợp là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ thực hiện việc khởi kiện. Cơ quan, tổ chức là pháp nhân khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp pháp.
Về phương thức nộp đơn, khoản 1 Điều 190 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cho phép người khởi kiện lựa chọn một trong ba hình thức: nộp trực tiếp tại Tòa án; gửi qua dịch vụ bưu chính; hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Mỗi hình thức đều có giá trị pháp lý như nhau, ngày khởi kiện được xác định là ngày đơn được ghi nhận theo từng phương thức tương ứng.
Ví dụ thực tiễn: Ông A ở tỉnh xa muốn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tại Tòa án nơi bị đơn cư trú. Thay vì phải đi lại nhiều lần, ông A có thể gửi đơn khởi kiện qua đường bưu điện có bảo đảm. Ngày khởi kiện được tính là ngày ông A gửi đơn tại bưu cục, thể hiện qua dấu bưu điện trên phong bì. Điều này bảo đảm quyền khởi kiện không bị gián đoạn do khoảng cách địa lý.
Về mặt pháp lý, hình thức đơn khởi kiện còn liên quan mật thiết đến thủ tục thụ lý vụ án quy định tại Điều 191 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi đơn khởi kiện đáp ứng đúng hình thức và nội dung theo quy định. Nếu đơn không đúng hình thức, Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ sung; nếu người khởi kiện không thực hiện đúng yêu cầu, Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Do đó, việc tuân thủ đúng hình thức đơn khởi kiện là điều kiện tiên quyết để vụ án được thụ lý và giải quyết.
Theo khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
Ví dụ thực tiễn: trong vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản, người khởi kiện phải ghi rõ yêu cầu Tòa án buộc người bị kiện trả số tiền gốc, tiền lãi cụ thể; đồng thời liệt kê hợp đồng vay, giấy biên nhận tiền, sao kê ngân hàng trong danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo. Nếu đơn khởi kiện không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc nêu trên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Thẩm phán sẽ yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn do Tòa án ấn định; hết thời hạn mà người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện. Việc tuân thủ đầy đủ các nội dung bắt buộc của đơn khởi kiện là điều kiện tiên quyết để vụ án được thụ lý, tránh kéo dài thời gian và phát sinh thủ tục không cần thiết.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn khởi kiện phải kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm; các tài liệu, chứng cứ còn lại phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thường bao gồm: giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể (căn cước công dân, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp); văn bản xác lập quan hệ pháp luật tranh chấp (hợp đồng, giấy vay tiền, biên bản thỏa thuận); tài liệu chứng minh hành vi vi phạm hoặc thiệt hại thực tế (biên bản xác nhận, hóa đơn, chứng từ thanh toán, hình ảnh, ghi âm hợp pháp); và các tài liệu khác liên quan trực tiếp đến yêu cầu khởi kiện.
Ví dụ thực tiễn: trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản, người khởi kiện cần nộp bản chính hoặc bản sao có chứng thực của giấy vay tiền, kèm theo giấy tờ tùy thân. Nếu chỉ có bản chụp không công chứng, Tòa án vẫn thụ lý nhưng sẽ yêu cầu đối chiếu bản chính tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Việc thiếu tài liệu, chứng cứ không đương nhiên dẫn đến trả lại đơn khởi kiện. Theo Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Thẩm phán chỉ trả lại đơn khi người khởi kiện không có quyền khởi kiện, không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực, hết thời hiệu khởi kiện, hoặc không thuộc thẩm quyền của Tòa án. Thiếu tài liệu, chứng cứ không nằm trong các căn cứ trả lại đơn; Tòa án phải thụ lý và yêu cầu bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Người khởi kiện cần lưu ý lập danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn, ghi rõ số lượng, tên gọi từng tài liệu để thuận tiện cho việc giao nộp và đối chiếu. Tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải kèm bản dịch công chứng sang tiếng Việt theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đơn khởi kiện được coi là chưa hợp lệ khi không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hình thức và nội dung quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo khoản 4 Điều 189, đơn khởi kiện phải có đủ các nội dung chủ yếu như: ngày, tháng, năm làm đơn; tên Tòa án nhận đơn; thông tin của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung tranh chấp; yêu cầu cụ thể của người khởi kiện; danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo. Trường hợp đơn khởi kiện thiếu một trong các nội dung này hoặc không đúng mẫu, không có chữ ký, điểm chỉ của người khởi kiện thì bị xem là chưa hợp lệ.
Việc xử lý đơn khởi kiện chưa hợp lệ được thực hiện theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo khoản 1 Điều 191, khi nhận được đơn khởi kiện chưa bảo đảm các yêu cầu về hình thức, nội dung, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn. Người khởi kiện có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán. Thời gian sửa đổi, bổ sung không tính vào thời hạn thụ lý vụ án.
Ví dụ thực tiễn: Ông A nộp đơn khởi kiện yêu cầu bà B trả nợ nhưng trong đơn không ghi rõ địa chỉ của bà B, không nêu số tiền cụ thể yêu cầu trả. Thẩm phán ra thông báo yêu cầu ông A bổ sung địa chỉ của bà B và xác định rõ số tiền yêu cầu. Nếu ông A không sửa đổi, bổ sung trong thời hạn quy định, Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện theo điểm a khoản 4 Điều 191. Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đầy đủ theo yêu cầu thì Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
Quy định này nhằm bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự, đồng thời tạo điều kiện cho Tòa án xác định chính xác phạm vi yêu cầu, đối tượng tranh chấp ngay từ giai đoạn thụ lý, tránh tình trạng đơn khởi kiện chung chung gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án.
Trong thực tiễn, nhiều đơn khởi kiện bị Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc trả lại do vi phạm quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Các lỗi phổ biến gồm:
Thứ nhất, thiếu thông tin nhận dạng đương sự. Điểm a, điểm b khoản 4 Điều 189 yêu cầu ghi rõ họ tên, địa chỉ, số điện thoại của người khởi kiện và bị đơn. Nhiều đơn chỉ ghi tên, không ghi địa chỉ cụ thể hoặc ghi địa chỉ không chính xác, khiến Tòa án không thể tống đạt văn bản tố tụng. Ví dụ: ghi “Nguyễn Văn A, ở quận 1” mà không có số nhà, đường, phường.
Thứ hai, không nêu đầy đủ nội dung tranh chấp và yêu cầu khởi kiện. Điểm d, điểm e khoản 4 Điều 189 yêu cầu nêu rõ vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhiều đơn chỉ trình bày sự việc chung chung, không xác định rõ yêu cầu cụ thể như buộc trả nợ bao nhiêu, lãi suất thế nào, khiến Tòa án không có cơ sở thụ lý.
Thứ ba, không liệt kê đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo. Điểm g khoản 4 Điều 189 yêu cầu ghi rõ danh mục tài liệu, chứng cứ. Thiếu danh mục hoặc không ghi rõ số lượng, loại tài liệu khiến hồ sơ không đầy đủ, bị yêu cầu bổ sung.
Thứ tư, không ký tên hoặc không xác nhận chữ ký. Điểm h khoản 4 Điều 189 yêu cầu người khởi kiện phải ký tên hoặc điểm chỉ. Đơn photo không có chữ ký gốc, hoặc chữ ký không đúng người khởi kiện, bị coi là không hợp lệ.
Thứ năm, nộp đơn không đúng thẩm quyền. Tuy không thuộc phạm vi Điều 189, lỗi này thường gắn với việc Tòa án trả lại đơn theo điểm c khoản 1 Điều 191. Ví dụ: tranh chấp bất động sản nhưng nộp đơn tại Tòa án nơi cư trú của bị đơn thay vì nơi có bất động sản.
Hậu quả của các lỗi trên là Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn theo khoản 2 Điều 191 hoặc trả lại đơn theo khoản 1 Điều 191, kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Người khởi kiện cần rà soát kỹ các nội dung bắt buộc tại khoản 4 Điều 189 trước khi nộp đơn.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.