Điều 134. Đại diện 1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. 2. Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó. 3. Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.”
Quy định này xác lập ba yếu tố cốt lõi của quan hệ đại diện. Thứ nhất, người đại diện phải nhân danh người được đại diện, tức giao dịch được xác lập dưới tư cách pháp lý của người được đại diện, không phải tư cách của chính người đại diện. Thứ hai, việc xác lập, thực hiện giao dịch phải vì lợi ích của người được đại diện. Thứ ba, người đại diện chỉ được hành động trong phạm vi đại diện đã được xác định theo pháp luật hoặc theo ủy quyền.
Về hình thức, đại diện được phân thành hai loại: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Đại diện theo pháp luật của cá nhân được quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ; người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện theo quy định. Đại diện theo ủy quyền được quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Ví dụ thực tiễn: cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, nhân danh con ký hợp đồng mua bán tài sản phục vụ nhu cầu học tập của con. Trường hợp người lao động ủy quyền cho đồng nghiệp nhận lương thay theo giấy ủy quyền hợp lệ là đại diện theo ủy quyền. Trong cả hai trường hợp, giao dịch do người đại diện xác lập trong phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
Đại diện là việc một chủ thể (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của chủ thể khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015. Bản chất pháp lý của đại diện thể hiện ở chỗ người đại diện không tham gia giao dịch với tư cách của chính mình, mà nhân danh người được đại diện; quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện sẽ ràng buộc trực tiếp người được đại diện.
Pháp luật dân sự ghi nhận hai hình thức đại diện. Thứ nhất, đại diện theo pháp luật là đại diện được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật, được quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015. Ví dụ, cha, mẹ đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên; người giám hộ đại diện cho người được giám hộ. Thứ hai, đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện, được quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015. Ví dụ, chủ sở hữu nhà ủy quyền cho người thân thay mặt ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tổ chức hành nghề công chứng.
Điểm khác biệt cốt lõi giữa hai hình thức này nằm ở căn cứ phát sinh: đại diện theo pháp luật phát sinh từ ý chí của Nhà nước hoặc từ quy định pháp luật nhằm bảo vệ người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự; còn đại diện theo ủy quyền phát sinh từ ý chí tự nguyện của người được đại diện. Dù ở hình thức nào, người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện; giao dịch vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện chấp nhận hoặc biết mà không phản đối.
Đại diện theo pháp luật là hình thức đại diện do pháp luật quy định trực tiếp hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, không phụ thuộc vào ý chí thỏa thuận của các bên. Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015, đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Khoản 2 Điều 134 xác định người đại diện theo pháp luật là người đại diện do pháp luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
Đối với cá nhân, Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể các trường hợp người đại diện theo pháp luật, bao gồm: cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ; người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện theo pháp luật; và người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ví dụ thực tiễn: cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật đương nhiên của con chưa thành niên, có quyền nhân danh con ký kết hợp đồng mua bán tài sản, thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến con mà không cần có văn bản ủy quyền.
Điểm khác biệt cơ bản giữa đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền (Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015) nằm ở căn cứ phát sinh: đại diện theo pháp luật phát sinh từ quy định của pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong khi đại diện theo ủy quyền phát sinh từ sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Người đại diện theo pháp luật không thể từ chối tư cách đại diện khi chưa có quyết định thay đổi của cơ quan có thẩm quyền, còn người đại diện theo ủy quyền có thể chấm dứt tư cách theo thỏa thuận hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền theo quy định.
Phạm vi đại diện theo pháp luật được xác định theo quy định của pháp luật về từng trường hợp cụ thể. Người đại diện theo pháp luật phải thực hiện quyền, nghĩa vụ nhân danh người được đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện, không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đại diện theo ủy quyền là hình thức đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Khác với đại diện theo pháp luật phát sinh từ quy định của luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đại diện theo ủy quyền hình thành trên cơ sở ý chí tự nguyện của các bên thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền.
Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015, đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Khoản 2 Điều 134 xác định cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện, trừ trường hợp pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó. Quy định này đặt nền tảng cho việc cá nhân không thể trực tiếp tham gia giao dịch vẫn có thể thông qua người khác để thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.
Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể về căn cứ xác lập quyền đại diện theo ủy quyền. Theo đó, cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.
Ví dụ thực tiễn: Ông A sở hữu một căn nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đang sinh sống ở nước ngoài, không thể trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng. Ông A lập hợp đồng ủy quyền cho bà B (em gái ông) thay mặt ông ký kết hợp đồng mua bán nhà với người mua. Trong trường hợp này, bà B là người đại diện theo ủy quyền, nhân danh ông A xác lập giao dịch. Mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà thuộc về ông A, không thuộc về bà B.
Cần phân biệt với đại diện theo pháp luật của cá nhân quy định tại Điều 136. Đại diện theo pháp luật phát sinh đương nhiên theo quy định của pháp luật, như cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ. Trong khi đó, đại diện theo ủy quyền chỉ phát sinh khi có sự ủy quyền hợp pháp từ người được đại diện. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác định theo nội dung ủy quyền, người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch trong phạm vi được ủy quyền.
Phạm vi đại diện là giới hạn quyền, nghĩa vụ mà người đại diện được xác lập, thực hiện nhân danh người được đại diện. Việc xác định đúng phạm vi đại diện có ý nghĩa quyết định trong việc xác định hiệu lực của giao dịch do người đại diện xác lập, cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh khi người đại diện vượt quá phạm vi được giao.
Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015, người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây: quyết định của cơ quan có thẩm quyền; điều lệ của pháp nhân; nội dung ủy quyền; hoặc quy định khác của pháp luật. Trường hợp không xác định được phạm vi đại diện cụ thể theo các căn cứ nêu trên, người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đối với đại diện theo pháp luật của cá nhân, Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định phạm vi đại diện gắn liền với từng chủ thể đại diện. Cha, mẹ đại diện cho con chưa thành niên; người giám hộ đại diện cho người được giám hộ; người do Tòa án chỉ định đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Phạm vi đại diện của các chủ thể này được giới hạn bởi quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ, người giám hộ nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự.
Đối với đại diện theo ủy quyền, Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác định theo nội dung ủy quyền, thể hiện qua văn bản ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền. Người được ủy quyền chỉ được thực hiện giao dịch trong phạm vi được ủy quyền và phải thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi đại diện của mình.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A ủy quyền cho ông B ký hợp đồng mua nguyên vật liệu với giá trị không quá 500 triệu đồng. Nếu ông B ký hợp đồng trị giá 800 triệu đồng, phần vượt quá 500 triệu đồng thuộc giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập. Theo khoản 3 Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch này không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với Công ty A, trừ khi Công ty A chấp nhận giao dịch đó.
Như vậy, phạm vi đại diện là ranh giới pháp lý bảo vệ người được đại diện trước những hành vi vượt quá thẩm quyền của người đại diện, đồng thời là căn cứ để xác định trách nhiệm của người đại diện khi giao dịch vượt quá phạm vi không được người được đại diện chấp nhận.
Hành vi đại diện hợp pháp làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự đối với người được đại diện. Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015, việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của người đại diện trong phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện. Như vậy, người được đại diện trực tiếp trở thành chủ thể của giao dịch, phải thực hiện nghĩa vụ và được hưởng quyền phát sinh từ giao dịch đó, còn người đại diện không phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với giao dịch đã xác lập đúng phạm vi đại diện.
Trường hợp người đại diện vượt quá phạm vi đại diện, khoản 2 Điều 134 quy định phần giao dịch vượt quá phạm vi không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện, trừ khi người được đại diện chấp nhận hoặc biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lý. Nếu người được đại diện không chấp nhận, người đại diện phải tự chịu trách nhiệm đối với phần vượt quá, bao gồm nghĩa vụ thực hiện giao dịch hoặc bồi thường thiệt hại cho người thứ ba ngay tình. Ví dụ: A ủy quyền cho B mua 100 tấn gạo, nhưng B ký hợp đồng mua 150 tấn. Phần 100 tấn ràng buộc A, còn 50 tấn vượt quá chỉ ràng buộc B, trừ khi A đồng ý nhận toàn bộ.
Đối với đại diện theo pháp luật, Điều 136 xác định cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên; người giám hộ đại diện cho người được giám hộ. Hành vi đại diện của các chủ thể này làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho người được đại diện, nhưng phải tuân thủ giới hạn vì lợi ích của người được đại diện. Đối với đại diện theo ủy quyền, Điều 138 quy định cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch; người đại diện chỉ được thực hiện trong phạm vi ủy quyền. Giao dịch do người đại diện xác lập đúng phạm vi ủy quyền ràng buộc người ủy quyền kể từ thời điểm giao dịch có hiệu lực.
Người đại diện có nghĩa vụ thông báo kịp thời cho người được đại diện về giao dịch đã xác lập. Việc không thông báo hoặc thông báo không trung thực có thể dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu gây tổn thất cho người được đại diện, theo nguyên tắc tự chịu trách nhiệm dân sự tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.