Bảo hộ nhãn hiệu trong thương mại điện tử: quy định và thực tiễn | Công ty Luật Minh Bạch

Bảo hộ nhãn hiệu trong thương mại điện tử: quy định và thực tiễn

Sở hữu trí tuệ · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nhãn hiệu trong thương mại điện tử: khái niệm và đặc thù
  2. Quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trên sàn TMĐT
  3. Trách nhiệm của sàn thương mại điện tử
  4. Thủ tục yêu cầu gỡ bỏ hàng hóa xâm phạm
  5. Xử lý vi phạm nhãn hiệu trên môi trường số
  6. Lưu ý khi đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu trên TMĐT

Điều 123. Quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp 1. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền tài sản sau đây: a) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 124 và Chương X của Luật này; b) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 125 của Luật này; c) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Chương X của Luật này. Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 45 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. 2.242 Tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng, tổ chức được trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này hoặc theo pháp luật của nước xuất xứ của chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý đó theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. 3.243 Tổ chức được ghi nhận là đại diện chủ sở hữu trên văn bằng bảo hộ được đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí phù hợp với quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nhãn hiệu trong thương mại điện tử: khái niệm và đặc thù

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau, được bảo hộ theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ. Trong môi trường thương mại điện tử, nhãn hiệu không chỉ tồn tại dưới dạng vật lý gắn trên sản phẩm mà còn hiện diện dưới dạng số hóa như tên miền, từ khóa tìm kiếm, hình ảnh sản phẩm, giao diện gian hàng trực tuyến và các yếu tố nhận diện thương hiệu trên sàn giao dịch điện tử, mạng xã hội, ứng dụng di động.

Đặc thù của nhãn hiệu trong thương mại điện tử thể hiện ở phạm vi tiếp cận xuyên biên giới, tốc độ lan truyền nhanh và khả năng bị xâm phạm với chi phí thấp. Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu theo quy định tại Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự. Trên không gian mạng, hành vi này diễn ra dưới nhiều hình thức như đăng bán hàng giả mạo nhãn hiệu trên sàn thương mại điện tử, sử dụng hình ảnh sản phẩm của chủ thể quyền để quảng cáo hàng nhái, đăng ký tên miền trùng hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng nhằm thu hút truy cập.

Ví dụ thực tiễn: một cá nhân mở gian hàng trên sàn thương mại điện tử sử dụng tên gian hàng và hình ảnh sản phẩm giống hệt thương hiệu mỹ phẩm đã được bảo hộ tại Việt Nam để bán sản phẩm không rõ nguồn gốc. Hành vi này xâm phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ, theo đó chủ sở hữu có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt nhãn hiệu. Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử đặt ra trách nhiệm cho các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử trong việc tuân thủ pháp luật sở hữu trí tuệ, tạo cơ sở pháp lý để chủ sở hữu nhãn hiệu yêu cầu gỡ bỏ sản phẩm xâm phạm và xử lý hành vi vi phạm trên môi trường trực tuyến.

2. Quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trên sàn TMĐT

Theo quy định tại Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022), chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền sử dụng nhãn hiệu, cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu, ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu và định đoạt nhãn hiệu. Trong môi trường thương mại điện tử, các quyền này được cụ thể hóa thành các quyền năng thực thi trực tiếp trên sàn giao dịch thương mại điện tử.

Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu là quyền năng quan trọng nhất trên sàn TMĐT. Căn cứ Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà không được phép của chủ sở hữu đều bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Trên sàn TMĐT, hành vi này biểu hiện dưới dạng gian hàng sử dụng tên, hình ảnh, logo trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký để bán hàng giả, hàng nhái.

Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền yêu cầu sàn TMĐT gỡ bỏ, khóa gian hàng vi phạm. Căn cứ Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (sửa đổi, bổ sung 2017, 2020), thương nhân sở hữu website TMĐT có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý khiếu nại của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời phải gỡ bỏ thông tin vi phạm khi có căn cứ xác định hành vi xâm phạm. Ví dụ thực tiễn: chủ sở hữu nhãn hiệu thời trang phát hiện gian hàng trên Shopee, Lazada bán sản phẩm gắn nhãn hiệu giả mạo, có quyền gửi yêu cầu xử lý kèm bằng chứng đăng ký nhãn hiệu đến bộ phận quản lý sàn; sàn có nghĩa vụ gỡ bỏ sản phẩm vi phạm trong thời hạn quy định.

Ngoài ra, chủ sở hữu nhãn hiệu còn có quyền khởi kiện ra Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước xử lý hành chính đối với hành vi xâm phạm trên sàn TMĐT, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 204 và Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ. Việc thực thi quyền trên sàn TMĐT đòi hỏi chủ sở hữu nhãn hiệu chủ động giám sát, thu thập chứng cứ và phối hợp với sàn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

3. Trách nhiệm của sàn thương mại điện tử

Trong môi trường thương mại điện tử, sàn giao dịch thương mại điện tử đóng vai trò trung gian kết nối người bán với người mua, đồng thời là chủ thể quản lý, vận hành nền tảng. Trách nhiệm của sàn thương mại điện tử đối với hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu được xác lập trên hai phương diện: trách nhiệm chủ động phòng ngừa và trách nhiệm xử lý khi phát hiện vi phạm.

Theo quy định tại Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Mặc dù sàn thương mại điện tử không trực tiếp thực hiện hành vi chào bán hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo, nhưng việc cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho phép người bán đăng tải, quảng bá và giao dịch hàng hóa vi phạm có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý của sàn nếu sàn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kiểm soát theo quy định.

Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 85/2021/NĐ-CP) quy định trách nhiệm cụ thể của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử. Theo đó, sàn có nghĩa vụ yêu cầu người bán cung cấp thông tin nhận diện, kiểm tra và giám sát hoạt động của người bán trên sàn; thiết lập cơ chế tiếp nhận và xử lý khiếu nại, phản ánh của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời gỡ bỏ hoặc khóa các gian hàng, sản phẩm vi phạm khi nhận được yêu cầu hợp lệ từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chủ thể quyền. Cơ chế "thông báo và gỡ bỏ" (notice and takedown) là công cụ pháp lý quan trọng để chủ sở hữu nhãn hiệu yêu cầu sàn can thiệp kịp thời đối với hàng hóa xâm phạm quyền.

Thực tiễn cho thấy nhiều sàn thương mại điện tử lớn tại Việt Nam đã chủ động xây dựng quy trình tiếp nhận khiếu nại về sở hữu trí tuệ, hợp tác với chủ thể quyền trong việc rà soát, gỡ bỏ sản phẩm vi phạm. Tuy nhiên, tình trạng hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu vẫn diễn biến phức tạp do khối lượng giao dịch lớn, người bán dễ dàng tạo lập gian hàng mới sau khi bị khóa. Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm chủ động của sàn trong việc áp dụng công nghệ sàng lọc, phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm nhãn hiệu, thay vì chỉ xử lý khi có khiếu nại.

Như vậy, trách nhiệm của sàn thương mại điện tử trong bảo hộ nhãn hiệu không chỉ giới hạn ở nghĩa vụ gỡ bỏ khi được yêu cầu mà còn bao hàm nghĩa vụ thiết lập cơ chế quản lý, giám sát hiệu quả nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu ngay từ khâu đăng tải sản phẩm, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ.

4. Thủ tục yêu cầu gỡ bỏ hàng hóa xâm phạm

Thủ tục yêu cầu gỡ bỏ hàng hóa xâm phạm quyền nhãn hiệu trên môi trường thương mại điện tử được thực hiện trên cơ sở quyền tự bảo vệ của chủ sở hữu nhãn hiệu theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ và cơ chế xử lý vi phạm quy định tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2020). Theo Điều 123, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có quyền áp dụng các biện pháp hợp lý để ngăn chặn và yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, bao gồm yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được xác định theo Điều 129, trong đó có hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà không được phép của chủ sở hữu.

Trên nền tảng thương mại điện tử, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn một trong hai tuyến thủ tục. Tuyến thứ nhất là yêu cầu trực tiếp đến sàn giao dịch thương mại điện tử. Theo Nghị định 52/2013/NĐ-CP, thương nhân sở hữu website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử có trách nhiệm gỡ bỏ thông tin về hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi nhận được yêu cầu bằng văn bản kèm theo bằng chứng chứng minh quyền sở hữu hợp pháp và hành vi xâm phạm. Hồ sơ yêu cầu thường bao gồm văn bản yêu cầu gỡ bỏ, bản sao Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, bằng chứng về hành vi xâm phạm (đường dẫn sản phẩm, hình ảnh, hóa đơn mua hàng giám định nếu có). Tuyến thứ hai là yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý, bao gồm Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, Quản lý thị trường, Tòa án hoặc cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Thực tiễn cho thấy tuyến yêu cầu trực tiếp đến sàn giao dịch thương mại điện tử thường được ưu tiên do tốc độ xử lý nhanh, chi phí thấp. Ví dụ, một doanh nghiệp sở hữu nhãn hiệu thời trang phát hiện hàng giả nhãn hiệu của mình được rao bán trên sàn thương mại điện tử lớn tại Việt Nam đã gửi văn bản yêu cầu kèm Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu và bằng chứng so sánh sản phẩm thật – giả. Sàn giao dịch sau khi đối chiếu đã gỡ bỏ gian hàng vi phạm trong thời hạn từ 24 đến 72 giờ theo quy chế nội bộ. Trường hợp bên bán không hợp tác hoặc sàn giao dịch không xử lý, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 129 và các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Luật Sở hữu trí tuệ.

5. Xử lý vi phạm nhãn hiệu trên môi trường số

Trong môi trường số, hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được xác định theo Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà không được phép của chủ sở hữu. Trên các sàn thương mại điện tử, hành vi này biểu hiện phổ biến dưới dạng: sử dụng tên gian hàng, hình ảnh sản phẩm, từ khóa tìm kiếm, tên miền hoặc đường dẫn chứa dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký.

Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền xử lý hành vi xâm phạm theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm, yêu cầu Tòa án hoặc trọng tài bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Trong môi trường thương mại điện tử, Nghị định 52/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2020) quy định trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử trong việc tiếp nhận và xử lý khiếu nại về hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể gửi yêu cầu gỡ bỏ thông tin vi phạm đến sàn giao dịch thương mại điện tử; sàn có nghĩa vụ tiếp nhận, xử lý và gỡ bỏ nội dung vi phạm trong thời hạn quy định.

Thực tiễn cho thấy nhiều vụ việc xâm phạm nhãn hiệu trên các sàn thương mại điện tử đã được xử lý thông qua cơ chế khiếu nại trực tiếp với sàn, kết hợp với biện pháp hành chính do cơ quan quản lý thị trường áp dụng. Ví dụ, các gian hàng sử dụng trái phép nhãn hiệu thời trang, mỹ phẩm nổi tiếng đã bị gỡ bỏ sản phẩm và xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, tốc độ tái lập gian hàng vi phạm với thông tin đăng ký mới vẫn là thách thức lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ sở hữu nhãn hiệu, sàn thương mại điện tử và cơ quan thực thi pháp luật.

6. Lưu ý khi đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu trên TMĐT

Thứ nhất, đăng ký nhãn hiệu trước khi triển khai kinh doanh trên sàn thương mại điện tử. Theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt nhãn hiệu. Quyền này chỉ phát sinh khi nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ. Trên môi trường số, việc chưa đăng ký khiến chủ thể kinh doanh không có cơ sở pháp lý để yêu cầu sàn gỡ bỏ sản phẩm giả mạo. Ví dụ, một cơ sở bán mỹ phẩm trên Shopee, Lazada bị đối thủ sử dụng tên gọi, logo tương tự gây nhầm lẫn nhưng chưa đăng ký nhãn hiệu sẽ gặp khó khăn trong việc chứng minh quyền sở hữu khi khiếu nại.

Thứ hai, đăng ký nhãn hiệu phải phù hợp với phạm vi hàng hóa, dịch vụ kinh doanh thực tế trên thương mại điện tử. Nhãn hiệu chỉ được bảo hộ trong phạm vi nhóm hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký theo Bảng phân loại Ni-xơ. Chủ thể kinh doanh đa ngành trên sàn cần rà soát, đăng ký bổ sung cho các nhóm sản phẩm mới phát sinh. Trường hợp chỉ đăng ký nhóm 25 (quần áo) nhưng mở rộng bán giày dép (nhóm 25) hay túi xách (nhóm 18) mà không bổ sung, quyền bảo hộ sẽ không bao trùm toàn bộ danh mục hàng hóa đang kinh doanh.

Thứ ba, chủ động giám sát và xử lý hành vi xâm phạm. Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ xác định các hành vi bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, bao gồm sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự. Trên thương mại điện tử, hành vi này biểu hiện qua việc đặt tên gian hàng, tiêu đề sản phẩm, hình ảnh, từ khóa tìm kiếm gắn nhãn hiệu của người khác. Chủ sở hữu cần định kỳ rà soát, sử dụng công cụ báo cáo vi phạm của sàn theo Nghị định 52/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung) để yêu cầu gỡ bỏ, đồng thời lưu giữ chứng cứ điện tử phục vụ khiếu nại hoặc khởi kiện.

Thứ tư, lưu ý về tên miền và từ khóa quảng cáo. Việc đăng ký tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ, hoặc mua từ khóa quảng cáo gắn với nhãn hiệu của người khác để dẫn dụ khách hàng, có thể cấu thành hành vi xâm phạm theo Điều 129. Ngược lại, chủ sở hữu nhãn hiệu nên chủ động đăng ký tên miền tương ứng và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu dưới dạng từ khóa để hạn chế tranh chấp.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022) - Điều 123: Quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
  • Luật Sở hữu trí tuệ - Điều 129: Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
  • Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử (sửa đổi 2017, 2020)
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp