Điều 37. Chuyển đổi giới tính Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 37 Luật Đất đai 2024 quy định quyền và nghĩa vụ của cá nhân sử dụng đất, bao gồm cá nhân trong nước và cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng được sử dụng đất tại Việt Nam. Về quyền, cá nhân có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất theo quy định; được khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Các quyền này chỉ được thực hiện khi đáp ứng điều kiện theo Điều 45 Luật Đất đai 2024: có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, còn thời hạn sử dụng đất. Về nghĩa vụ, cá nhân phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới, đúng quy hoạch; nộp thuế, phí, lệ phí liên quan; bảo vệ đất, không làm suy thoái đất; trả lại đất khi Nhà nước thu hồi; bồi thường thiệt hại nếu vi phạm.
Ví dụ thực tiễn: Ông A được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, muốn chuyển nhượng cho ông B. Theo Điều 37, ông A có quyền chuyển nhượng, nhưng phải đáp ứng Điều 45: đất không tranh chấp, còn thời hạn sử dụng. Hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng theo quy định tại Điều 500–503 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng về quyền sử dụng đất, trong đó cần có nội dung về đối tượng, giá, thời hạn, quyền và nghĩa vụ các bên. Nếu ông A chưa có giấy chứng nhận thì không thể thực hiện quyền chuyển nhượng.
Theo quy định tại Điều 37 Luật Đất đai 2024, cá nhân sử dụng đất được Nhà nước công nhận và bảo hộ nhiều quyền năng pháp lý quan trọng. Trước hết, cá nhân có quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi đáp ứng đủ điều kiện theo luật định. Đây là cơ sở pháp lý nền tảng để thực hiện các giao dịch về đất đai.
Về quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, Điều 37 quy định cá nhân có toàn quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất của mình, nhưng phải tuân thủ điều kiện tại Điều 45 Luật Đất đai 2024: có Giấy chứng nhận, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên, còn thời hạn sử dụng đất. Trong thực tiễn, quyền chuyển nhượng là quyền phổ biến nhất, thể hiện qua các hợp đồng mua bán đất. Hợp đồng này phải tuân thủ hình thức công chứng, chứng thực theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 tại các Điều 500–503 về hợp đồng về quyền sử dụng đất, cụ thể phải lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
Cá nhân còn có quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng để vay vốn sản xuất, kinh doanh; quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất để hợp tác đầu tư. Đây là những quyền mang tính tài sản quan trọng, giúp khai thác giá trị kinh tế của đất đai. Ví dụ thực tế: một hộ gia đình có thửa đất ở hợp pháp có thể thế chấp Giấy chứng nhận tại ngân hàng để vay 500 triệu đồng mở cửa hàng kinh doanh.
Bên cạnh các quyền giao dịch, cá nhân sử dụng đất có quyền được bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Quyền này bảo đảm lợi ích hợp pháp của người dân khi Nhà nước thực hiện quyền thu hồi đất. Cũng theo Điều 37, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, bảo vệ quyền lợi của mình trước các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Nội dung đang được biên soạn.
Theo Điều 37 Luật Đất đai 2024, cá nhân sử dụng đất có quyền thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất. Việc thực hiện các quyền này phải đáp ứng điều kiện tại Điều 45 Luật Đất đai 2024, bao gồm: có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện cấp; đất không có tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị kê biên; trong thời hạn sử dụng đất; và phù hợp quy hoạch sử dụng đất.
Quyền thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Người thừa kế nhận di sản là quyền sử dụng đất nếu đất đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện cấp. Trên thực tế, khi người sử dụng đất chết, những người thừa kế hợp pháp tiến hành khai nhận di sản tại tổ chức hành nghề công chứng, sau đó đăng ký biến động đất đai để sang tên. Ví dụ, ông A mất, để lại thửa đất ở đã có sổ đỏ; ba người con là đồng thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản và đứng tên chung trên Giấy chứng nhận sau khi hoàn thủ tục.
Tặng cho quyền sử dụng đất phải lập hợp đồng bằng văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, theo Điều 500–503 Bộ luật Dân sự 2015. Người tặng cho và người nhận phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Thực tiễn phổ biến là cha mẹ tặng cho con quyền sử dụng đất nông nghiệp. Nếu đất đã được cấp Giấy chứng nhận và con đủ điều kiện nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, hợp đồng tặng cho có hiệu lực sau khi công chứng; các bên tiếp tục thủ tục đăng ký biến động để sang tên.
Như vậy, quyền thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất là quyền tài sản quan trọng của cá nhân sử dụng đất, nhưng phải tuân thủ chặt chẽ điều kiện và hình thức pháp lý. Thiếu giấy tờ hoặc vi phạm điều kiện có thể làm giao dịch vô hiệu, gây rủi ro cho các bên.
1. Căn cứ pháp lý
Khoản 5, 6 Điều 37 Luật Đất đai 2024 quy định cá nhân sử dụng đất có quyền thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (QSDĐ). Điều kiện thực hiện các quyền này được quy định tại Điều 45 Luật Đất đai 2024. Bản chất của hợp đồng thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 500-503).
2. Quyền thế chấp bằng QSDĐ
Cá nhân sử dụng đất có quyền thế chấp QSDĐ tại tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính hoặc cá nhân khác để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (thường là vay vốn). Theo Điều 45 Luật Đất đai 2024, việc thế chấp phải đáp ứng các điều kiện: có Giấy chứng nhận QSDĐ; đất không có tranh chấp; QSDĐ không bị kê biên, áp dụng biện pháp bảo đảm để thi hành án; còn thời hạn sử dụng đất. Hợp đồng thế chấp phải được công chứng, chứng thực và đăng ký thế chấp theo quy định.
Ví dụ thực tiễn: Ông A có thửa đất ở đã được cấp Giấy chứng nhận, có nhu cầu vay 500 triệu đồng từ Ngân hàng B để kinh doanh. Ông A ký hợp đồng thế chấp QSDĐ tại Ngân hàng B, hợp đồng được công chứng và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai. Nếu ông A không trả được nợ, Ngân hàng B có quyền xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận hoặc theo pháp luật.
3. Quyền góp vốn bằng QSDĐ
Cá nhân có quyền góp vốn bằng QSDĐ để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân khác. Giá trị QSDĐ được định giá và ghi nhận là phần vốn góp. Điều kiện thực hiện tương tự như thế chấp (Điều 45 Luật Đất đai 2024). Hợp đồng góp vốn bằng QSDĐ phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực (Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015).
Ví dụ thực tiễn: Bà C có thửa đất nông nghiệp diện tích 2 ha, muốn hợp tác với Công ty D để xây dựng trang trại. Bà C góp vốn bằng QSDĐ, Công ty D góp vốn bằng tiền và công nghệ. Giá trị QSDĐ được hai bên thống nhất định giá, hợp đồng góp vốn được công chứng. Quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo hợp đồng và quy định của pháp luật.
4. Lưu ý pháp lý
Nghĩa vụ của cá nhân sử dụng đất được quy định tại Điều 37 Luật Đất đai 2024, đặt ra khuôn khổ pháp lý bắt buộc nhằm bảo đảm việc khai thác, sử dụng đất đai hiệu quả, bền vững và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia. Theo đó, cá nhân sử dụng đất có các nghĩa vụ cơ bản: sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy hoạch; thực hiện nghĩa vụ tài chính đầy đủ và đúng hạn (tiền sử dụng đất, thuế đất, tiền thuê đất); bảo vệ đất, không làm hủy hoại, ô nhiễm đất; tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường; không lấn, chiếm đất trái phép; và giao lại đất khi Nhà nước thu hồi theo quy định.
Phân tích cho thấy, các nghĩa vụ này không chỉ mang tính chất hành chính mà còn gắn liền với quyền lợi của người sử dụng đất. Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định điều kiện để cá nhân thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất, như: có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, và trong thời hạn sử dụng đất. Nếu cá nhân không hoàn thành nghĩa vụ tài chính hoặc vi phạm mục đích sử dụng đất, việc thực hiện các quyền này sẽ bị hạn chế hoặc không được phép. Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 500–503) điều chỉnh hợp đồng về quyền sử dụng đất, đặt nền tảng cho các giao dịch dân sự, yêu cầu các bên phải thiện chí, trung thực và tự chịu trách nhiệm khi vi phạm (tinh thần Điều 3 Bộ luật Dân sự).
Trong thực tiễn, một cá nhân sử dụng đất nông nghiệp phải canh tác đúng mục đích, nộp thuế đất hàng năm. Nếu muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, người đó phải đáp ứng đủ điều kiện tại Điều 45, bao gồm việc đã được cấp Giấy chứng nhận và thời hạn sử dụng đất còn lại. Ngược lại, nếu cá nhân tự ý chuyển nhượng khi chưa có Giấy chứng nhận hoặc đất đang có tranh chấp, hợp đồng sẽ bị vô hiệu theo Điều 500–503 Bộ luật Dân sự, và người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc tuân thủ nghĩa vụ không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là cơ sở bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân trong quá trình khai thác và chuyển dịch quyền sử dụng đất.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.