Điều 156. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự 1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra; ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố. 2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định kèm theo các tài liệu liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự cho[90] Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội vu khống. Hành vi khách quan gồm: bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người đó. Chủ thể thực hiện với lỗi cố ý; khách thể là danh dự, nhân phẩm và các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân.
Khung hình phạt cơ bản (khoản 1): phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Khung tăng nặng (khoản 2): phạt tù từ 01 năm đến 03 năm nếu hành vi có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; vu khống nhiều người; đối với người thi hành công vụ; sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; gây rối loạn tâm thần, hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%. Khung đặc biệt nghiêm trọng (khoản 3): phạt tù từ 03 năm đến 07 năm khi nạn nhân tự sát, rối loạn tâm thần trên 46%, hoặc xâm phạm an ninh quốc gia.
Về thủ tục tố tụng, Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định tội vu khống chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp hành vi xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc bị hại chết, mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đây là nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại trong các vụ án xâm phạm danh dự, nhân phẩm.
Thực tiễn, tội vu khống thường phát sinh từ mâu thuẫn cá nhân, tranh chấp dân sự, kinh doanh hoặc trên mạng xã hội. Ví dụ, một người đăng tải thông tin sai sự thật lên Facebook về việc người khác tham nhũng, ngoại tình nhằm hạ thấp uy tín, gây thiệt hại tinh thần và vật chất. Khi bị hại có yêu cầu khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra, xử lý theo quy định. Hiểu rõ các yếu tố cấu thành tội phạm và thủ tục khởi tố giúp cá nhân bảo vệ quyền lợi hợp pháp hiệu quả.
Theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội vu khống được xác định bởi hành vi bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Hành vi vu khống có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức: trực tiếp nói lời vu khống, đăng tải thông tin sai sự thật lên mạng xã hội, gửi đơn tố cáo nặc danh chứa nội dung bịa đặt, hoặc sử dụng các phương tiện truyền thông khác.
Về mặt chủ quan, người phạm tội phải có lỗi cố ý trực tiếp: biết rõ nội dung mình đưa ra là sai sự thật nhưng vẫn thực hiện với mục đích hạ thấp uy tín, danh dự của nạn nhân. Ví dụ thực tiễn: A phát hiện B có mâu thuẫn cá nhân nên đã đăng tải lên Facebook thông tin B là kẻ lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của nhiều người, dù A hoàn toàn không có bằng chứng và biết rõ thông tin đó là bịa đặt. Hành vi này khiến B bị mọi người xa lánh, mất việc làm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự và cuộc sống. Trường hợp này, A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống.
Về thủ tục tố tụng, theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tội vu khống là vụ án chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Điều này nhằm bảo đảm quyền tự quyết của người bị xâm hại về danh dự, nhân phẩm, tránh việc can thiệp quá mức của Nhà nước vào các tranh chấp mang tính cá nhân. Tuy nhiên, nếu hành vi vu khống đồng thời xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể chủ động khởi tố mà không cần yêu cầu của bị hại.
Như vậy, hành vi vu khống người khác là một dạng tội phạm xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân, được pháp luật hình sự điều chỉnh chặt chẽ cả về mặt nội dung và thủ tục tố tụng nhằm bảo vệ quyền con người trong xã hội.
Nội dung đang được biên soạn.
Đối với tội vu khống
Trong thời đại số, hành vi vu khống trên mạng xã hội trở thành vấn nạn nhức nhối với tốc độ lan truyền chóng mặt và hậu quả khó lường. Các đối tượng lợi dụng Facebook, TikTok, Zalo để đăng tải thông tin sai sự thật, bịa đặt nhằm hạ uy tín, danh dự cá nhân, tổ chức. Thực tiễn cho thấy nhiều vụ việc chỉ từ một bài viết, bình luận hoặc video ngắn có thể gây tổn thất nặng nề về tinh thần, uy tín, công việc và kinh tế cho nạn nhân trước khi được gỡ bỏ.
Điển hình, một số vụ lan truyền thông tin sai lệch về quan hệ bất chính, tham nhũng, lừa đảo của cá nhân dù chưa có căn cứ kiểm chứng. Những nội dung này nhanh chóng viral, cộng đồng mạng chỉ trích, tẩy chay, khiến nạn nhân bị cô lập, trầm cảm, thậm chí tự tử. Thực tiễn xử lý cho thấy, hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội vu khống quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) với khung hình phạt từ phạt tiền, cải tạo không giam giữ đến phạt tù 7 năm tùy tính chất, hậu quả. Đặc biệt, vu khống trên mạng xã hội được xem là hành vi sử dụng "mạng máy tính, mạng viễn thông" – tình tiết định khung tại điểm a khoản 2.
Về thủ tục, tội vu khống thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Nghĩa là, cơ quan tố tụng chỉ khởi tố vụ án khi có yêu cầu của nạn nhân hoặc người đại diện hợp pháp. Trong thực tiễn, nhiều trường hợp bị hại e ngại, không dám yêu cầu khởi tố vì sợ bị trả thù, khiến hành vi vu khống không bị xử lý kịp thời.
Luật sư khuyến nghị: khi bị vu khống trên mạng xã hội, cần thu thập, sao lưu ngay toàn bộ chứng cứ (bài viết, bình luận, hình ảnh, đường dẫn), làm đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (Công an, Sở Thông tin và Truyền thông) xử lý, đồng thời yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Việc chậm trễ có thể làm mất chứng cứ, gây khó khăn cho quá trình xử lý và khiến hậu quả ngày càng nghiêm trọng.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.