Điều 135. Chính sách của Nhà nước 1. Bảo đảm quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc. 2. Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ, lao động nam có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà. 3. Có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình. 4. Có chính sách giảm thuế đối với người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định của pháp luật về thuế. 5. Nhà nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động. Mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ. 6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Quyền của lao động nữ là một trong những nội dung trọng tâm của Bộ luật Lao động 2019, thể hiện chính sách bảo vệ đặc thù dành riêng cho đối tượng này, đặc biệt trong giai đoạn mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ.
Căn cứ Điều 135 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ có quyền được bảo vệ sức khỏe thai sản. Người sử dụng lao động (NSDLĐ) không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Đây là quyền bảo vệ việc làm quan trọng, ngăn chặn hành vi phân biệt đối xử. Trên thực tế, có nhiều vụ việc nữ lao động thông báo mang thai và bị NSDLĐ ép nghỉ hoặc điều chuyển công việc gián tiếp. Tòa án đã tuyên hủy quyết định sa thải, buộc nhận lại lao động và bồi thường toàn bộ tiền lương trong thời gian bị sa thải trái luật.
Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 quy định lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại hoặc tiếp xúc với các chất có hại cho sức khỏe thai nhi thì được chuyển sang công việc nhẹ hơn hoặc giảm giờ làm mà vẫn hưởng nguyên lương. Ngoài ra, trong thời gian mang thai, lao động nữ được quyền nghỉ tối đa 05 ngày làm việc để khám thai; khi sinh con, được nghỉ thai sản trước và sau sinh là 06 tháng (Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2014). Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng trợ cấp do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả tương đương 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết việc bố trí phòng vắt trữ sữa mẹ tại nơi làm việc, cũng như thời gian nghỉ cho con bú 60 phút mỗi ngày trong suốt 12 tháng đầu sau sinh.
Điều 141 Bộ luật Lao động 2019 còn quy định lao động nữ có quyền làm việc theo chế độ thời gian linh hoạt, làm việc bán thời gian khi nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Thực tiễn cho thấy nhiều doanh nghiệp đã áp dụng chính sách này nhằm giữ chân lao động nữ có trình độ chuyên môn cao, giảm tỷ lệ nghỉ việc sau sinh. Một số doanh nghiệp FDI còn bố trí phòng nghỉ cho nhân viên mang thai ở tháng cuối, thể hiện trách nhiệm xã hội vượt mức tối thiểu luật định.
Căn cứ Bộ luật Lao động 2019 (số 45/2019/QH14) và Nghị định 145/2020/NĐ-CP, pháp luật lao động Việt Nam nghiêm cấm người sử dụng lao động bố trí lao động nữ làm các công việc có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh sản và nuôi con. Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, theo đó lao động nữ không được làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành danh mục.
Trong thực tiễn, các công việc bị cấm sử dụng lao động nữ bao gồm: vận hành máy khoan, khai thác hầm lò, lặn biển, sản xuất hóa chất độc hại, làm việc trong môi trường phóng xạ vượt quá liều lượng cho phép, hoặc các công việc phải tiếp xúc thường xuyên với các tác nhân gây đột biến gen, ung thư. Danh mục cụ thể được ban hành theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP, là căn cứ pháp lý để người sử dụng lao động thực hiện đúng nghĩa vụ bảo vệ sức khỏe lao động nữ.
Một ví dụ điển hình: lao động nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi tuyệt đối không được bố trí làm việc vào ban đêm hoặc làm thêm giờ theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Lao động 2019. Việc vi phạm có thể dẫn đến xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP, với mức phạt lên đến 75 triệu đồng đối với hành vi sử dụng lao động nữ làm công việc bị cấm.
Như vậy, pháp luật lao động không chỉ bảo vệ quyền lợi của lao động nữ trước tác động tiêu cực từ môi trường làm việc, mà còn góp phần bảo đảm sức khỏe thế hệ tương lai. Người sử dụng lao động cần rà soát danh mục công việc bị cấm, xây dựng phương án bố trí nhân sự phù hợp, tránh rủi ro pháp lý.
Theo Điều 139 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con 06 tháng; nếu sinh đôi trở lên, từ con thứ hai được nghỉ thêm 01 tháng. Thời gian nghỉ trước sinh tối đa 02 tháng. Điều kiện hưởng chế độ thai sản theo Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014: lao động nữ phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trong 12 tháng trước khi sinh. Trường hợp đóng từ đủ 12 tháng trở lên mà phải nghỉ dưỡng thai theo chỉ định y tế thì chỉ cần đóng từ đủ 03 tháng trong 12 tháng trước sinh.
Mức hưởng chế độ thai sản bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc. Ngoài ra, lao động nữ được hưởng trợ cấp một lần khi sinh con, mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh (Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội). Thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian làm việc để hưởng các quyền lợi hợp pháp khác (Điều 139 Bộ luật Lao động). Ví dụ thực tiễn: chị A đóng bảo hiểm xã hội 08 tháng trước khi sinh, mức lương bình quân 10 triệu đồng/tháng, khi nghỉ thai sản được hưởng 10 triệu đồng/tháng trong 06 tháng, cộng thêm trợ cấp một lần khoảng 3,6 triệu đồng (mức lương cơ sở 1,8 triệu đồng).
Sau thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ; nếu việc cũ không còn, người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác phù hợp với sức khỏe (Điều 140 Bộ luật Lao động). Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết tại Điều 73. Trên thực tế, một số doanh nghiệp đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sau khi lao động nữ nghỉ thai sản, dẫn đến tranh chấp và bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 28/2020/NĐ-CP. Như vậy, chế độ thai sản theo Bộ luật Lao động 2019 tạo hành lang pháp lý toàn diện bảo vệ lao động nữ; người lao động cần nắm vững quyền lợi, người sử dụng lao động phải tuân thủ để tránh rủi ro pháp lý.
Chế độ thai sản là một trong những chế độ quan trọng của bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, được quy định tại Điều 30 đến Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (số 58/2014/QH13), nhằm bảo vệ sức khỏe, thu nhập cho lao động nữ trong thời gian mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ. Đồng thời, Bộ luật Lao động năm 2019 (Điều 135-141) quy định các bảo đảm việc làm, không bị sa thải, xử lý kỷ luật lao động khi đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Theo Điều 31 Luật BHXH 2014, lao động nữ đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con thì được hưởng chế độ thai sản. Mức hưởng bằng 100% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc (Điều 39). Thời gian nghỉ là 06 tháng, trường hợp sinh đôi trở lên tính thêm 01 tháng cho mỗi con (Điều 34). Ngoài ra, lao động nữ còn được hưởng trợ cấp một lần bằng 02 tháng lương cơ sở cho mỗi con (Điều 38).
Về bảo vệ việc làm, Điều 137 Bộ luật Lao động 2019 nghiêm cấm người sử dụng lao động sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lao động nữ đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian nghỉ thai sản, hợp đồng được gia hạn đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Điều 139).
Ví dụ thực tiễn: Chị A đóng BHXH từ đủ 06 tháng trong 12 tháng trước khi sinh, hưởng chế độ thai sản 06 tháng, mức hưởng bằng 100% bình quân lương đóng BHXH 06 tháng trước khi nghỉ. Khi đi làm lại, chị được bố trí công việc ban đầu, không bị cắt giảm tiền lương, thời gian làm việc mỗi ngày được giảm 01 giờ mà vẫn hưởng nguyên lương (Điều 140 BLLĐ 2019).
Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thủ tục hồ sơ hưởng chế độ thai sản, trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm quyền lợi cho lao động nữ. Như vậy, chế độ thai sản theo BHXH không chỉ bảo đảm thu nhập, sức khỏe cho mẹ và con mà còn bảo vệ việc làm, tạo điều kiện để lao động nữ ổn định cuộc sống, yên tâm lao động sản xuất.
Bảo vệ thai sản và nuôi con nhỏ là một trong những nội dung trọng tâm của chính sách bảo vệ lao động nữ. Căn cứ Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản hướng dẫn, người lao động nữ được hưởng nhiều quyền lợi đặc thù trong giai đoạn mang thai, sinh con và nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Theo Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ đang mang thai, đang nghỉ thai sản hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Quy định này nhằm bảo đảm sự ổn định việc làm, tránh tình trạng lao động nữ bị kỳ thị khi mang thai. Trường hợp công việc có yếu tố độc hại hoặc nặng nhọc, lao động nữ mang thai có quyền được chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn theo Điều 138 Bộ luật này, với mức lương không thấp hơn lương cũ.
Về chế độ nghỉ thai sản, Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 quy định lao động nữ được nghỉ thai sản 6 tháng, trường hợp sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai, mỗi con được nghỉ thêm 1 tháng. Sau thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ có quyền trở lại làm việc, không bị cắt giảm lương hoặc chức vụ. Khi nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt sữa, nghỉ ngơi (Nghị định 145/2020/NĐ-CP). Ngoài ra, trong thời gian hành kinh, lao động nữ được nghỉ 30 phút mỗi ngày, tối đa 3 ngày/tháng.
Luật Bảo hiểm xã hội 2014 (Điều 30 đến 38) quy định chế độ thai sản bao gồm: trợ cấp một lần khi sinh con bằng 2 lần mức lương cơ sở; trợ cấp thay lương hàng tháng trong 6 tháng nghỉ thai sản (100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH); và chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản tối đa 10 ngày (nếu sinh mổ hoặc sinh đôi) hoặc 5 ngày (sinh thường). Những quy định này tạo mạng lưới an sinh cho lao động nữ khi không có thu nhập trong thời gian thai sản.
Ví dụ thực tiễn: Tại một doanh nghiệp may mặc ở Bình Dương, nhiều lao động nữ mang thai bị ép nghỉ việc hoặc bị chuyển sang công việc vệ sinh với mức lương thấp hơn. Sau khi công đoàn can thiệp và viện dẫn Điều 137, 138 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp buộc phải nhận lại người lao động, bố trí công việc nhẹ nhàng và giữ nguyên lương. Qua đó cho thấy các quy định bảo vệ thai sản và nuôi con nhỏ không chỉ là chính sách nhân văn mà còn là công cụ pháp lý hữu hiệu, bảo vệ quyền lợi chính đáng của lao động nữ trong thực tế.
Việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ lao động nữ và chế độ thai sản được căn cứ chủ yếu vào Bộ luật Lao động 2019 (Điều 135–141), Luật Bảo hiểm xã hội 2014 (Điều 30–38) và Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành. Các hành vi vi phạm điển hình bao gồm: phân biệt đối xử về giới, sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do mang thai, nghỉ thai sản, không bố trí công việc phù hợp sau khi trở lại, không đóng bảo hiểm xã hội hoặc không giải quyết chế độ thai sản theo quy định.
Thực tiễn cho thấy, nhiều doanh nghiệp vi phạm bằng cách không cho lao động nữ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đủ 06 tháng (Điều 34 Luật BHXH 2014) hoặc yêu cầu nghỉ không lương thay vì đóng bảo hiểm. Cũng có trường hợp người sử dụng lao động kỷ luật, chấm dứt hợp đồng khi lao động nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trái với quy định tại Điều 137 Bộ luật Lao động 2019. Những vi phạm này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động mà còn gây hệ lụy đến sức khỏe và thu nhập của người mẹ và trẻ sơ sinh.
Hình thức xử lý bao gồm: xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP (thay thế một phần các quy định xử phạt trong lĩnh vực lao động), buộc khôi phục quyền lợi, bồi thường thiệt hại và có thể truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi cấu thành tội phạm. Người lao động có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện ra tòa án để bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Cơ quan thanh tra lao động có trách nhiệm kiểm tra, xử lý kịp thời các vi phạm nhằm bảo đảm thực thi đúng các quy định về lao động nữ và chế độ thai sản.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.