Cố ý gây thương tích: tỷ lệ tổn thương cơ thể và khung hình phạt
- Cấu thành tội cố ý gây thương tích
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể và hậu quả
- Định khung hình phạt: cơ bản, tăng nặng
- Các tình tiết định khung tăng nặng
- Trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án
- Thủ tục tố giác, khởi tố vụ án
Điều 134. Tính thời hạn 1. Thời hạn mà Bộ luật này quy định được tính theo giờ, ngày, tháng, năm. Đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau. Khi tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ ngày cuối cùng của thời hạn. Khi tính thời hạn theo tháng thì thời hạn hết vào ngày trùng của tháng sau; nếu tháng đó không có ngày trùng thì thời hạn hết vào ngày cuối cùng của tháng đó; nếu thời hạn hết vào ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính là ngày cuối cùng của thời hạn. Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam thì thời hạn hết vào ngày kết thúc thời hạn được ghi trong lệnh, quyết định. Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì 01 tháng được tính là 30 ngày. 2. Trường hợp có đơn hoặc giấy tờ gửi qua dịch vụ bưu chính thì thời hạn được tính theo dấu bưu chính nơi gửi. Nếu có đơn hoặc giấy tờ gửi qua cơ sở giam giữ thì thời hạn được tính từ ngày Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[65], Trưởng Buồng tạm giữ thuộc Đồn biên phòng, Giám thị Trại tạm giam, Giám thị Trại giam nhận đơn hoặc giấy tờ đó.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
1. Cấu thành tội cố ý gây thương tích
Cấu thành tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Đây là tội xâm phạm trực tiếp quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe của người khác.
Khách thể của tội phạm là sức khỏe, thân thể con người. Mặt khách quan thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, hung khí, thủ đoạn khác hoặc hành vi tấn công khác làm người bị hại bị thương tích, tổn hại cơ thể. Thực tiễn, cơ quan tiến hành tố tụng thường căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể, tính chất hành vi, phương tiện sử dụng, địa điểm, hoàn cảnh xảy ra vụ việc để xem xét dấu hiệu tội phạm và khung hình phạt tương ứng.
Chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Mặt chủ quan là lỗi cố ý: người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây thương tích cho người khác nhưng vẫn thực hiện, hoặc bỏ mặc hậu quả xảy ra.
Các tình tiết định khung theo Điều 134 là căn cứ làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội, như tính chất côn đồ, có tổ chức, dùng vũ khí hoặc thủ đoạn nguy hiểm, phạm tội đối với người yếu thế, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hơn. Ngược lại, khi xem xét trách nhiệm hình sự, Tòa án cũng cân nhắc tình tiết giảm nhẹ theo quy định chung của Bộ luật Hình sự, chẳng hạn người phạm tội thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, được người bị hại xin giảm nhẹ.
Ví dụ: A dùng chai thủy tinh đánh B trong lúc mâu thuẫn, làm B bị thương phải giám định thương tích. Nếu kết quả giám định và các tình tiết khác đủ căn cứ, A có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 134 BLHS; nếu B là người bị hại trong trường hợp thuộc diện luật cho phép khởi tố theo yêu cầu, thủ tục sẽ thực hiện theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể và hậu quả
Tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ quan trọng để xác định tính chất, mức độ của hành vi cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tỷ lệ này không do người bị hại tự ước lượng, mà phải được giám định pháp y làm căn cứ pháp lý. Cùng một hành vi đánh, đâm, dùng hung khí hoặc có tính chất côn đồ, nhưng kết quả giám định khác nhau sẽ dẫn tới khung hình phạt khác nhau. Tỷ lệ càng cao, hậu quả càng nghiêm trọng, khả năng bị xử lý hình sự càng lớn, mức hình phạt thường càng nặng.
Hậu quả không chỉ là phần trăm tổn thương cơ thể, mà còn gồm mất khả năng lao động, để lại di chứng, ảnh hưởng lâu dài đến sinh hoạt, học tập, việc làm, hoặc gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác. Trong thực tiễn, có trường hợp thương tích không quá cao nhưng hành vi nguy hiểm, gây đau đớn kéo dài, dùng hung khí, tấn công nhiều người, hoặc phạm tội đối với người yếu thế thì vẫn có thể bị xem xét ở khung nặng hơn theo các tình tiết định khung của Điều 134. Ngược lại, tỷ lệ tổn thương thấp hơn, hậu quả hạn chế, người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, có thể là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
Ví dụ: một vụ xô xát chỉ làm nạn nhân bị thương nhẹ, điều trị ngắn ngày, hậu quả không lớn, thường được đánh giá khác với trường hợp dùng dao gây thương tích sâu, để lại sẹo, hạn chế vận động, phải điều trị dài ngày. Điểm mấu chốt là kết luận giám định và hậu quả thực tế là hai yếu tố song hành.
Về tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định trình tự khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; với một số trường hợp cố ý gây thương tích, việc khởi tố còn gắn với thủ tục yêu cầu khởi tố của bị hại. Vì vậy, khi có thương tích, cần giữ hồ sơ y tế, đơn trình báo, tài liệu giám định để bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
3. Định khung hình phạt: cơ bản, tăng nặng
Khung cơ bản: Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017, hành vi cố ý gây thương tích được xếp vào khung cơ bản khi tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại đạt mức luật định, thường là từ 11% đến 30%, hoặc dưới 11% nhưng có đủ điều kiện pháp luật nêu trong điều luật. Mức hình phạt ở khung này là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Đây là khung thường gặp nhất trong các vụ xô xát, đánh nhau đơn lẻ, không có tính chất đặc biệt nghiêm trọng.
Khung tăng nặng: Khi tỷ lệ tổn thương cơ thể cao hơn, hoặc khi có các tình tiết định khung tăng nặng được liệt kê tại Điều 134, vụ án chuyển sang khung nặng hơn. Trường hợp phổ biến là tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60%, hoặc thương tích tuy thấp hơn nhưng hành vi có tính chất nguy hiểm hơn như dùng hung khí, thực hiện có tổ chức, với nhiều người, đối với người yếu thế, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hơn. Khi đó, hình phạt không còn ở mức cơ bản mà tăng lên các mức tù cao hơn theo từng khoản của Điều 134. Nguyên tắc là: tỷ lệ thương tật càng cao, tình tiết càng nghiêm trọng, khung hình phạt càng nặng.
Trong thực tiễn, một cú đánh tay không gây 12% thương tật thường vẫn nằm ở khung cơ bản; nhưng cùng hành vi đó, nếu dùng dao, gậy, hoặc đánh hội đồng khiến thương tích vượt ngưỡng luật định, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét sang khung tăng nặng. Ngoài ra, khi lượng hình còn phải cân nhắc tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo BLHS.
Lưu ý tố tụng: Với một số trường hợp thuộc khoản 1 Điều 134, việc khởi tố còn gắn với thủ tục yêu cầu khởi tố vụ án theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Nghĩa là, đơn yêu cầu của bị hại có thể là điều kiện quan trọng để vụ án được khởi tố hợp pháp.
4. Các tình tiết định khung tăng nặng
Các tình tiết định khung tăng nặng trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Điểm mấu chốt là không chỉ nhìn vào tỷ lệ tổn thương cơ thể, mà còn phải xét phương thức thực hiện, đối tượng bị hại, mục đích, tính chất hành vi.
Theo cấu trúc Điều 134, hành vi có thể bị đẩy lên khung nặng hơn khi thuộc các trường hợp như: có tổ chức; phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; đối với ông, bà, cha, mẹ, con, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo, người dạy dỗ của mình; thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê; có tính chất côn đồ; đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm.
Ví dụ thực tiễn: cùng một thương tích 15%, nhưng nếu người gây án rủ nhiều người đánh nạn nhân thì yếu tố có tổ chức có thể làm thay đổi khung hình phạt. Tương tự, hành vi đánh người đang làm nhiệm vụ hoặc đánh người già yếu không thể chống đỡ thường bị đánh giá nghiêm khắc hơn so với xung đột thông thường.
Về tỷ lệ tổn thương cơ thể, Điều 134 phân hóa trách nhiệm hình sự theo ngưỡng thương tật. Khi tỷ lệ càng cao, khung hình phạt càng nặng; đồng thời, dưới ngưỡng vẫn có thể bị truy cứu nếu có một trong các tình tiết định khung nêu trên. Vì vậy, giám định pháp y chỉ là một phần; cơ quan tố tụng còn phải xác định đúng bối cảnh phạm tội và quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân.
Kết luận: Trong tội danh này, các tình tiết định khung tăng nặng là căn cứ trực tiếp để chuyển từ khung cơ bản sang khung nặng hơn, ảnh hưởng lớn đến mức án thực tế.
5. Trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án
Trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án cố ý gây thương tích phát sinh khi hành vi xâm phạm sức khỏe đã đủ dấu hiệu tội phạm theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017. Ngoài việc bị xem xét trách nhiệm hình sự theo tỷ lệ tổn thương cơ thể và các tình tiết định khung tăng nặng, người gây thương tích còn phải bù đắp thiệt hại thực tế cho bị hại. Đây là phần trách nhiệm độc lập với hình phạt, nhưng thường được giải quyết ngay trong cùng vụ án hình sự nếu có yêu cầu và có căn cứ chứng minh.
Về nguyên tắc, thiệt hại dân sự phải được xác định từ hồ sơ, chứng cứ: hóa đơn điều trị, kết luận giám định thương tích, tài liệu chứng minh thu nhập bị mất, chi phí chăm sóc, và các khoản tổn thất thực tế khác có liên quan. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; đồng thời bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Vì vậy, bị hại nên nộp yêu cầu bồi thường sớm để cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở xem xét trong cùng vụ án.
Ví dụ: A đánh B gây thương tích, kết quả giám định cho thấy tỷ lệ tổn thương cơ thể đủ căn cứ xử lý theo Điều 134. Nếu B phải điều trị dài ngày, mất thu nhập, cần người chăm sóc, thì A không chỉ có nguy cơ bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn khi có tình tiết định khung, mà còn phải bồi thường các khoản thiệt hại đã chứng minh được. Trường hợp hai bên tự thỏa thuận được mức bồi thường, Tòa án thường ghi nhận trong bản án; nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ căn cứ chứng cứ để quyết định. Lưu ý: nếu vụ án thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, đơn yêu cầu khởi tố phải làm đúng thủ tục theo BLTTHS.
6. Thủ tục tố giác, khởi tố vụ án
Thủ tục tố giác, khởi tố vụ án trong các vụ cố ý gây thương tích phải bám đúng hai trục: nguồn tin về tội phạm và khởi tố vụ án. Theo Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, BLTTHS quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Theo Điều 2, mục tiêu là phát hiện chính xác, xử lý kịp thời hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Khi bị đánh gây thương tích, người bị hại hoặc người biết việc nên làm đơn tố giác, mô tả thời gian, địa điểm, người thực hiện, hành vi, thương tích, nhân chứng, thiệt hại; kèm giấy chứng thương, ảnh, video, tin nhắn, hồ sơ điều trị nếu có. Đây là căn cứ ban đầu để cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, xác minh dấu hiệu tội phạm theo Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Trong thực tiễn, nhiều vụ việc “xô xát” tưởng đơn giản nhưng khi có tỷ lệ tổn thương cơ thể, hung khí, hành vi có tính chất côn đồ, hoặc tình tiết làm tăng nặng định khung thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét theo Điều 134 BLHS. Ví dụ: bị đánh bằng gậy, phải nhập viện, có giấy chứng thương và lời khai nhân chứng; lúc này, đơn tố giác là bước mở đầu để cơ quan điều tra xác minh, trưng cầu giám định, đối chiếu lời khai, rồi mới quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án.
Lưu ý: tố giác càng sớm, tài liệu càng đầy đủ, khả năng bảo toàn chứng cứ càng cao. Nếu thương tích rõ ràng, nên nộp đơn và tài liệu kèm theo để cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết theo BLTTHS 2015.
Lưu ý khi áp dụng
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
- Bộ luật Hình sự 2015 (100/2015/QH13, sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 134
- Bộ luật Hình sự 2015 - các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ định khung
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (101/2015/QH13) - thủ tục yêu cầu khởi tố vụ án