Điều 613 BLDS 2015: Người thừa kế
- Nội dung Điều 613 BLDS 2015
- Ai là người thừa kế hợp pháp
- Điều kiện để trở thành người thừa kế
- Thời điểm xác định tư cách người thừa kế
- Người thừa kế là cá nhân và pháp nhân
- Lưu ý về người thừa kế trong thực tiễn
Điều 613. Người thừa kế Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
1. Nội dung Điều 613 BLDS 2015
Điều 613 BLDS 2015 xác định ai là người thừa kế hợp lệ. Theo quy định này, cá nhân chỉ được coi là người thừa kế nếu còn sống tại thời điểm mở thừa kế, hoặc đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sau đó sinh ra còn sống. Trường hợp thừa kế theo di chúc mà người được chỉ định không phải cá nhân thì chủ thể đó phải còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế. Quy định này là “điều kiện đầu vào” của quyền hưởng di sản.
Ý nghĩa pháp lý của Điều 613 gắn chặt với Điều 609 BLDS 2015 về quyền thừa kế: cá nhân có quyền để lại di sản cho người khác và có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên, không phải ai được nhắc đến trong di chúc cũng đương nhiên được nhận di sản. Muốn hưởng di sản, người đó trước hết phải đáp ứng điều kiện của Điều 613, sau đó mới xét tiếp các căn cứ loại trừ theo Điều 621 BLDS 2015 về người không được quyền hưởng di sản.
Ví dụ thực tiễn: A chết ngày 01/3, để lại di chúc cho con là B và cho cháu C. Nếu B còn sống tại thời điểm 01/3 thì B là người thừa kế hợp lệ. Nếu C chưa sinh nhưng đã được xác định là đã thành thai trước ngày 01/3 và sau đó sinh ra còn sống, C vẫn có thể là người thừa kế. Ngược lại, nếu một tổ chức được chỉ định trong di chúc nhưng tổ chức đó đã chấm dứt tồn tại trước thời điểm mở thừa kế, thì không đủ điều kiện hưởng di sản theo Điều 613. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp thừa kế, cần kiểm tra đồng thời thời điểm mở thừa kế, tư cách chủ thể, rồi mới xét đến các trường hợp bị loại trừ tại Điều 621.
2. Ai là người thừa kế hợp pháp
Người thừa kế hợp pháp là chủ thể được pháp luật công nhận có quyền hưởng di sản theo Điều 609 BLDS 2015, nhưng chỉ khi đáp ứng điều kiện về tư cách thừa kế tại Điều 613 và không thuộc trường hợp bị loại trừ tại Điều 621.
Theo Điều 613, người thừa kế là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp người đó được thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì vẫn được hưởng di sản. Ngoài ra, nếu người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì cơ quan, tổ chức đó phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Điều này cho thấy, không phải cứ có quan hệ thân thích là đương nhiên được nhận di sản. Ví dụ, người con đã được thành thai trước khi cha mẹ chết nhưng sinh ra còn sống sau đó vẫn là người thừa kế hợp pháp. Ngược lại, người được chỉ định trong di chúc nhưng đã không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì không đủ điều kiện hưởng theo di chúc.
Tuy nhiên, Điều 621 loại trừ quyền hưởng di sản của một số người, dù họ có quan hệ thừa kế. Chẳng hạn, người có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi người để lại di sản; người giả mạo, sửa chữa, hủy, che giấu di chúc để hưởng di sản trái ý chí của người để lại di sản; hoặc người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng có thể bị tước quyền hưởng di sản theo luật.
Vì vậy, để xác định ai là người thừa kế hợp pháp, cần kiểm tra đồng thời 3 yếu tố: có quyền thừa kế theo Điều 609, đủ điều kiện theo Điều 613, và không thuộc diện bị loại trừ theo Điều 621.
3. Điều kiện để trở thành người thừa kế
Điều kiện để trở thành người thừa kế được xác định chủ yếu theo Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, đặt trong mối liên hệ với Điều 609 và Điều 621.
Trước hết, Điều 609 BLDS 2015 xác lập nguyên tắc chung: cá nhân có quyền để lại di sản cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Từ đó, một chủ thể chỉ trở thành người thừa kế khi đáp ứng điều kiện về chủ thể và tư cách được hưởng di sản.
Theo Điều 613 BLDS 2015, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Đây là điều kiện cơ bản nhất. Nếu người đó đã chết trước thời điểm mở thừa kế thì không còn tư cách là người thừa kế của di sản này. Nếu đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì vẫn có thể là người thừa kế, với điều kiện sau đó phải sinh ra và còn sống. Quy định này bảo vệ quyền lợi của thai nhi trong quan hệ thừa kế.
Ví dụ thực tiễn: ông A chết, để lại di sản cho các con. Người con B đã chết trước ông A thì B không thể nhận thừa kế. Nhưng nếu vợ B đang mang thai cháu C tại thời điểm ông A chết, thì cháu C vẫn có thể thuộc hàng thừa kế, miễn là sinh ra và còn sống sau đó.
Bên cạnh đó, Điều 621 BLDS 2015 quy định các trường hợp người không được quyền hưởng di sản. Nghĩa là dù có quan hệ huyết thống, hôn nhân hay được chỉ định trong di chúc, người thuộc các trường hợp bị luật loại trừ thì không được hưởng di sản, trừ trường hợp luật có quy định khác. Đây là “hàng rào pháp lý” bảo đảm sự công bằng, ngăn việc người có hành vi xâm hại nghiêm trọng đến người để lại di sản hoặc người thừa kế khác được hưởng lợi từ chính hành vi đó.
Tóm lại, để trở thành người thừa kế, cần có: quyền thừa kế theo Điều 609; còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc là thai nhi đã thành thai trước đó theo Điều 613; và không thuộc diện bị tước quyền hưởng di sản theo Điều 621.
4. Thời điểm xác định tư cách người thừa kế
Thời điểm xác định tư cách người thừa kế được nhìn nhận tại thời điểm mở thừa kế. Theo Điều 613 BLDS 2015, người thừa kế là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế; trường hợp đặc biệt là người đã thành thai trước khi người để lại di sản chết, sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì cũng được xác định là người thừa kế. Đây là mốc quyết định để biết ai có quyền nhận di sản, bảo đảm đúng quyền thừa kế theo Điều 609 BLDS 2015.
Hiểu đúng thời điểm này rất quan trọng. Người đã chết trước thời điểm mở thừa kế thì không còn tư cách người thừa kế. Ngược lại, người còn sống tại thời điểm đó, hoặc thai nhi đáp ứng điều kiện của Điều 613, được xác định là chủ thể có quyền hưởng di sản. Việc xác định tư cách không phụ thuộc vào việc người đó đã kịp nhận di sản hay chưa, mà phụ thuộc vào trạng thái pháp lý tại thời điểm mở thừa kế.
Thực tiễn thường gặp trường hợp người để lại di sản chết đột ngột, sau đó mới xác định có con đang trong bụng mẹ. Nếu đứa trẻ được thành thai trước thời điểm người để lại di sản chết, sinh ra sống sau đó, thì đứa trẻ vẫn là người thừa kế hợp pháp. Ngược lại, nếu thai được hình thành sau thời điểm mở thừa kế thì không thuộc diện này.
Cần lưu ý thêm: có tư cách người thừa kế theo Điều 613 chưa đồng nghĩa chắc chắn được hưởng di sản. Điều 621 BLDS 2015 loại trừ quyền hưởng di sản đối với những người thuộc trường hợp pháp luật quy định là người không được quyền hưởng di sản. Vì vậy, việc xác định đúng phải đi theo hai bước: có thuộc hàng người thừa kế tại thời điểm mở thừa kế hay không, rồi mới xét có bị loại trừ quyền hưởng di sản hay không.
5. Người thừa kế là cá nhân và pháp nhân
Người thừa kế theo Điều 613 BLDS 2015 được xác định trước hết là cá nhân. Cá nhân chỉ có thể hưởng di sản khi đáp ứng điều kiện luật định: còn sống vào thời điểm mở thừa kế, hoặc đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế và sinh ra còn sống sau đó. Quy định này bảo đảm quyền thừa kế tại Điều 609 BLDS 2015 chỉ phát sinh đối với chủ thể có tư cách được pháp luật thừa nhận. Ví dụ, người con đã thành thai trước khi cha mẹ chết nhưng sinh ra còn sống thì vẫn có thể là người thừa kế hợp pháp.
Bên cạnh cá nhân, Điều 613 còn ghi nhận cơ quan, tổ chức có thể là người thừa kế theo di chúc nếu còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trong thực tiễn, đây là căn cứ để người lập di chúc để lại tài sản cho một tổ chức xã hội, quỹ, viện, trường hoặc đơn vị được chỉ định hợp pháp, miễn là tổ chức đó vẫn tồn tại khi di sản được mở. Cần lưu ý: quy định này không áp dụng theo mọi trường hợp thừa kế, mà gắn với thừa kế theo di chúc.
Quyền thừa kế tại Điều 609 là quyền dân sự được pháp luật bảo hộ, nhưng không tuyệt đối. Điều 621 BLDS 2015 loại trừ một số chủ thể không được quyền hưởng di sản, dù họ có thể thuộc hàng thừa kế hoặc được chỉ định trong di chúc, nếu rơi vào các trường hợp luật cấm. Vì vậy, muốn xác định đúng người thừa kế phải kiểm tra đồng thời: chủ thể có đủ điều kiện theo Điều 613, có quyền hưởng di sản theo Điều 609, và không thuộc diện bị loại trừ theo Điều 621.
Thực tiễn, nếu người để lại di sản lập di chúc cho con ruột và một quỹ từ thiện còn hoạt động, cả hai đều có thể là người thừa kế; ngược lại, người thuộc trường hợp bị loại trừ theo Điều 621 thì không được nhận di sản, dù có quan hệ thân thích hay được nêu tên trong di chúc.
6. Lưu ý về người thừa kế trong thực tiễn
Lưu ý thực tiễn về người thừa kế: Khi xác định người được hưởng di sản, trước hết phải kiểm tra thời điểm mở thừa kế. Theo Điều 613 BLDS 2015, người thừa kế là cá nhân phải còn sống tại thời điểm đó; trường hợp đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì vẫn có thể được hưởng nếu sinh ra và còn sống. Với người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, điều kiện là cơ quan, tổ chức đó còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế.
Trong thực tế, đây là điểm dễ nhầm nhất. Ví dụ: cha mất ngày 01/3, con đang mang thai từ trước thời điểm này thì đứa trẻ, nếu sinh ra và sống, vẫn là người thừa kế. Ngược lại, người được ghi tên trong di chúc nhưng đã chết trước thời điểm mở thừa kế thì không còn tư cách người thừa kế; phần di sản đó sẽ được xử lý theo quy định chung của pháp luật hoặc theo nội dung di chúc còn hiệu lực.
Điều 609 BLDS 2015 khẳng định cá nhân có quyền để lại tài sản cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên, quyền này không tuyệt đối. Khi lập di chúc, cần ghi rõ người nhận di sản, tránh mô tả mơ hồ như “con tôi” nếu có nhiều người con; đồng thời nên cập nhật di chúc khi người được chỉ định đã chết, đã giải thể, hoặc khi quan hệ gia đình thay đổi. Nếu không, tranh chấp rất dễ phát sinh ngay ở khâu xác định ai là người thừa kế hợp lệ.
Đặc biệt, Điều 621 BLDS 2015 loại trừ quyền hưởng di sản đối với người thuộc các trường hợp luật định, nhất là hành vi xâm phạm người để lại di sản, ngược đãi, cản trở việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc nhằm trục lợi. Ví dụ: con ép cha mẹ lập di chúc có lợi cho mình, hoặc tự ý sửa nội dung di chúc, có thể bị mất quyền hưởng di sản. Tuy vậy, nếu người để lại di sản biết rõ hành vi đó mà vẫn cho hưởng, thì cần xem xét theo ngoại lệ của Điều 621.
Lưu ý khi áp dụng
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
- Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 613 về người thừa kế
- Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 609 về quyền thừa kế
- Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 621 về người không được quyền hưởng di sản