Điều 26 BLTTDS 2015: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 26 BLTTDS 2015: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Phạm vi tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền Tòa án
  2. Các loại tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường
  3. Phân biệt với tranh chấp kinh doanh thương mại
  4. Xác định loại vụ việc để chuẩn bị hồ sơ
  5. Lưu ý khi lựa chọn phương thức giải quyết

Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án 1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân. 2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. 3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự. 4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này. 5. Tranh chấp về thừa kế tài sản. 6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. 7. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính. 8. Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước. 9. Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng. 10. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí. 11. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. 12. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 13. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 14. Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác th

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Phạm vi tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền Tòa án

Phạm vi tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền Tòa án được xác định trước hết theo Điều 26 BLTTDS 2015. Đây là nhóm tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, tức tranh chấp về quyền, nghĩa vụ dân sự giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức; Tòa án thụ lý khi yêu cầu giải quyết thuộc loại tranh chấp dân sự mà Bộ luật Tố tụng dân sự giao cho Tòa án xem xét. Mục tiêu là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, bảo đảm giải quyết bằng trình tự tố tụng chặt chẽ.

Trong thực tiễn, nhóm này thường gặp ở các tranh chấp như: hợp đồng vay, mua bán, đặt cọc, thuê tài sản; đòi lại tài sản; bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; tranh chấp thừa kế; tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả giữa các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức không mang tính kinh doanh thương mại. Ví dụ: một người vay tiền cá nhân nhưng đến hạn không trả; hai bên ký hợp đồng đặt cọc mua nhà rồi một bên từ chối thực hiện; hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác, phát sinh yêu cầu bồi thường.

Điều 30 BLTTDS 2015 là ranh giới quan trọng. Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại và thuộc nhóm quan hệ được Điều 30 điều chỉnh thì không xác định theo Điều 26. Nói cách khác, cùng là tranh chấp về hợp đồng, nhưng nếu hợp đồng gắn với hoạt động kinh doanh, mục đích lợi nhuận, giữa các chủ thể kinh doanh phù hợp phạm vi của Điều 30, Tòa án sẽ xem xét theo nhóm tranh chấp kinh doanh, thương mại, không xếp vào tranh chấp dân sự thông thường.

Vì vậy, khi xác định thẩm quyền, cần nhìn vào bản chất quan hệ tranh chấp: phát sinh từ đời sống dân sự hay từ hoạt động kinh doanh, thương mại. Xác định đúng ngay từ đầu giúp nộp đơn đúng Tòa án, tránh trả lại đơn, kéo dài thời gian giải quyết.

2. Các loại tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường

Theo BLTTDS 2015, Điều 1 xác định Bộ luật này điều chỉnh trình tự, thủ tục để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự; đồng thời, Điều 26 là căn cứ để nhận diện nhóm tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền Tòa án, còn Điều 30 dùng để phân biệt với tranh chấp kinh doanh, thương mại. Vì vậy, khi xem xét tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường, cần xác định đúng bản chất quan hệ tranh chấp trước khi chọn điều luật áp dụng.

Tranh chấp về quyền sở hữu thường phát sinh khi các bên bất đồng về việc ai là chủ sở hữu, ai có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. Thực tiễn có thể là trường hợp một bên cho rằng tài sản thuộc quyền của mình, bên kia lại đang giữ hoặc sử dụng tài sản đó. Đây là nhóm tranh chấp điển hình của dân sự, nếu không mang bản chất kinh doanh, thương mại thì thường được xem xét theo Điều 26 BLTTDS 2015.

Tranh chấp về hợp đồng là mâu thuẫn nảy sinh từ việc giao kết, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng. Ví dụ thực tiễn: một bên đã thực hiện nghĩa vụ nhưng bên kia không thực hiện đúng cam kết; hoặc các bên bất đồng về điều kiện, thời hạn, cách thức thực hiện hợp đồng. Nếu quan hệ này phát sinh trong đời sống dân sự thông thường, Tòa án thụ lý theo hướng tranh chấp dân sự; nếu phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại thì cần đối chiếu Điều 30.

Tranh chấp về bồi thường là tranh chấp về trách nhiệm khắc phục thiệt hại, thường gắn với việc một bên yêu cầu bên còn lại bù đắp tổn thất phát sinh. Ví dụ: thiệt hại về tài sản do vi phạm nghĩa vụ trong quan hệ dân sự, hoặc yêu cầu bồi thường khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Điểm mấu chốt là xác định nguồn gốc thiệt hại và quan hệ pháp lý nền tảng để phân loại đúng sang Điều 26 hay Điều 30.

Kết luận: Nhóm tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường là các tranh chấp dân sự phổ biến; nhưng nếu có yếu tố kinh doanh, thương mại thì phải rà soát thêm Điều 30 BLTTDS 2015 để tránh xác định sai thẩm quyền.

3. Phân biệt với tranh chấp kinh doanh thương mại

Theo Điều 26 BLTTDS 2015, tranh chấp dân sự là nhóm tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự thuần túy, như hợp đồng dân sự, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quyền sở hữu, thừa kế, quyền đối với tài sản, nghĩa vụ dân sự khác. Dấu hiệu chính là không nhằm mục đích sinh lợi trong hoạt động kinh doanh, thương mại.

Ngược lại, Điều 30 BLTTDS 2015 điều chỉnh tranh chấp kinh doanh, thương mại, tức tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh có mục đích lợi nhuận. Thường gặp ở giao dịch giữa thương nhân, doanh nghiệp, hoặc các quan hệ gắn với tổ chức, vận hành doanh nghiệp, như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xây dựng, đại lý, vận chuyển, bảo hiểm, tín dụng, góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, quyền và nghĩa vụ thành viên công ty.

Phân biệt trọng tâm không chỉ ở chủ thể, mà ở bản chất quan hệ. Một tranh chấp giữa hai cá nhân vẫn có thể là kinh doanh, thương mại nếu giao dịch được xác lập để kinh doanh, có mục đích lợi nhuận. Ngược lại, doanh nghiệp tham gia nhưng quan hệ không mang tính kinh doanh thì vẫn có thể là dân sự.

Ví dụ thực tiễn: tranh chấp vay tiền giữa hai cá nhân để phục vụ chi tiêu gia đình thường là tranh chấp dân sự theo Điều 26. Nhưng tranh chấp thanh toán tiền hàng giữa hai công ty có đăng ký kinh doanh, phát sinh từ hợp đồng cung ứng hàng hóa, là tranh chấp kinh doanh, thương mại theo Điều 30. Tương tự, tranh chấp về phần vốn góp, quyền của thành viên công ty thường không xếp vào Điều 26, mà thuộc nhóm tranh chấp kinh doanh, thương mại.

Kết luận: khi xác định thẩm quyền, cần xem mục đích giao dịch, tính chất hoạt động, và quan hệ pháp lý cụ thể; không chỉ nhìn tên gọi của bên tranh chấp.

4. Xác định loại vụ việc để chuẩn bị hồ sơ

Xác định đúng loại vụ việc là bước đầu khi chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, vì Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án giải quyết theo từng nhóm tranh chấp. Theo Điều 26 BLTTDS 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về dân sự. Theo Điều 30 BLTTDS 2015, Tòa án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Cùng là tranh chấp hợp đồng, nhưng việc xác định đúng “dân sự” hay “kinh doanh, thương mại” ảnh hưởng trực tiếp đến cách ghi đơn, tài liệu cần nộp, căn cứ chứng minh, thẩm quyền và hướng xử lý của Tòa án.

Khi rà soát hồ sơ, nên nhìn vào bản chất quan hệ tranh chấp. Nếu quan hệ phát sinh giữa cá nhân với cá nhân, hoặc giữa cá nhân với tổ chức trong giao dịch đời sống dân sự thông thường, hồ sơ thường được chuẩn bị theo hướng tranh chấp dân sự theo Điều 26. Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại, như giao dịch giữa các chủ thể kinh doanh, hợp đồng phục vụ hoạt động buôn bán, cung ứng dịch vụ, thanh toán hàng hóa, thì cần xác định theo Điều 30. Xác định sai nhóm vụ việc dễ dẫn đến nộp hồ sơ thiếu, ghi yêu cầu không đúng trọng tâm, kéo dài thời gian xử lý.

Ví dụ thực tiễn:

  • Hai cá nhân vay tiền, đến hạn không trả: thường là tranh chấp dân sự theo Điều 26.
  • Hai doanh nghiệp ký hợp đồng mua bán hàng hóa, bên mua chậm thanh toán: thường là tranh chấp kinh doanh, thương mại theo Điều 30.
  • Có hợp đồng nhưng một bên là tổ chức, một bên là cá nhân: cần xem nguồn gốc giao dịch, mục đích ký kết, tư cách các bên để xác định đúng loại vụ việc trước khi nộp hồ sơ.

Vì vậy, trước khi soạn đơn khởi kiện, nên chốt 3 điểm: quan hệ tranh chấp, chủ thể tham gia, mục đích giao dịch. Chốt đúng ngay từ đầu, hồ sơ gọn, yêu cầu rõ, Tòa án dễ thụ lý đúng thẩm quyền.

5. Lưu ý khi lựa chọn phương thức giải quyết

Lưu ý khi lựa chọn phương thức giải quyết là phải xác định đúng bản chất tranh chấp ngay từ đầu. Theo Điều 26 BLTTDS 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về dân sự. Trong khi đó, Điều 30 BLTTDS 2015 điều chỉnh tranh chấp kinh doanh, thương mại. Hai nhóm tranh chấp này đều có thể thuộc thẩm quyền Tòa án, nhưng không nên nhầm lẫn vì việc xác định sai sẽ dẫn đến nộp đơn sai loại việc, chậm thời gian, phát sinh chi phí, phải sửa đổi hoặc chuyển hướng hồ sơ.

Thực tiễn cho thấy, tranh chấp giữa các bên về hợp đồng vay, đặt cọc, mua bán tài sản, bồi thường thiệt hại thường được xem xét theo nhóm dân sự. Ngược lại, tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại cần được đối chiếu với Điều 30 để chọn đúng cơ chế giải quyết. Ví dụ: một cá nhân cho cá nhân khác vay tiền để tiêu dùng là tranh chấp dân sự; còn tranh chấp từ quan hệ cung ứng dịch vụ, hợp tác kinh doanh, mua bán hàng hóa trong hoạt động kinh doanh cần xem xét theo nhóm kinh doanh, thương mại.

Vì vậy, trước khi khởi kiện, cần rà soát 3 điểm: (1) quan hệ phát sinh từ đâu; (2) chủ thể tham gia là ai; (3) yêu cầu khởi kiện thuộc nhóm dân sự hay kinh doanh, thương mại. Căn cứ này giúp người khởi kiện chọn đúng thủ tục theo BLTTDS 2015, hạn chế rủi ro bị trả lại đơn hoặc phải bổ sung hồ sơ.

Nếu hồ sơ có dấu hiệu giao thoa giữa dân sự và kinh doanh, thương mại, nên chuẩn bị tài liệu chứng minh giao dịch, mục đích ký kết, quá trình thực hiện và tranh chấp thực tế để xác định đúng thẩm quyền Tòa án ngay từ đầu.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 26 về những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 - Điều 30 về tranh chấp kinh doanh, thương mại
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp