Kháng cáo là việc người có quyền kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án khi không đồng ý với bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Căn cứ hiện hành là Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2026), văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH 2026 (hợp nhất 7 luật sửa đổi: 02/2021, 34/2024, 59/2024, 99/2025, 103/2025, 105/2025, 106/2025). Số điều về kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên: Điều 331 đến Điều 342.
Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định các chủ thể có quyền kháng cáo:
Lưu ý: người bào chữa không kháng cáo thay bị cáo trưởng thành — quyền kháng cáo phải do chính bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện, trừ các trường hợp nêu trên.
Điều 333 quy định:
Đây là thời hạn pháp lý nghiêm ngặt — hết hạn không kháng cáo thì bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Kháng cáo quá hạn (Điều 335) chỉ được chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; hồ sơ do Hội đồng ba Thẩm phán Tòa án cấp phúc thẩm xem xét.
Theo Điều 332, người kháng cáo có thể:
Đơn kháng cáo phải có: ngày, tháng, năm làm đơn; họ tên, địa chỉ người kháng cáo; lý do và yêu cầu kháng cáo; chữ ký hoặc điểm chỉ. Kèm theo là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có).
Ngày kháng cáo được xác định: đơn gửi qua bưu chính tính theo dấu bưu chính nơi gửi; bị cáo bị tạm giam tính ngày Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ nhận đơn; nộp trực tiếp tính ngày Tòa án nhận đơn hoặc lập biên bản. Nếu đang chuẩn bị kháng cáo, nên nhờ luật sư rà soát đơn và lý do kháng cáo — xem dịch vụ tố tụng hình sự của chúng tôi.
Điều 339 quy định: những phần của bản án, quyết định bị kháng cáo thì chưa được đưa ra thi hành (trừ trường hợp Điều 363 về thi hành ngay). Kháng cáo toàn bộ bản án thì toàn bộ chưa được thi hành. Tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có thể thay đổi, bổ sung kháng cáo nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, hoặc rút một phần, toàn bộ kháng cáo (Điều 342).
Viện kiểm sát không có quyền kháng cáo mà có quyền kháng nghị (Điều 336):
Thời hạn kháng nghị (Điều 337):
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, Viện kiểm sát phải gửi quyết định kháng nghị kèm chứng cứ bổ sung (nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm và cho bị cáo, người liên quan (Điều 338).
15 ngày kể từ ngày tuyên án theo khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết. Kháng cáo quá hạn chỉ được chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (Điều 335).
Theo Điều 48, người đại diện của bị cáo chưa thành niên, người có nhược điểm tâm thần, thể chất có quyền kháng cáo thay. Với bị cáo trưởng thành, bản thân bị cáo phải tự kháng cáo; người thân chỉ kháng cáo được khi là người đại diện hợp pháp theo quy định.
Không. Theo Điều 339, phần bản án bị kháng cáo, kháng nghị chưa được thi hành, trừ trường hợp tại Điều 363 (một số hình phạt được thi hành ngay dù có kháng cáo, kháng nghị như phạt tiền, trục xuất, tịch thu tài sản…).
Kháng cáo do người có quyền kháng cáo (bị cáo, bị hại, đương sự…) thực hiện. Kháng nghị chỉ do Viện kiểm sát thực hiện. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án (Điều 337).
Theo Điều 354 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án cấp phúc thẩm không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo hoặc kháng nghị theo hướng có lợi. Tuy nhiên, nếu có kháng cáo của bị hại hoặc kháng nghị theo hướng bất lợi, mức hình phạt có thể bị tăng trong giới hạn khung hình phạt.
Nội dung bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành, Cập nhật 2026/08:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn thủ tục kháng cáo.