Bình luận Điều 31 Bộ luật Lao động 2019: Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động | Công ty Luật Minh Bạch

Bình luận Điều 31 Bộ luật Lao động 2019: Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động

Lao động · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/11

Điều 31. Nhận lại người lao động hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Khái quát Điều 31 Bộ luật Lao động 2019

Vị trí và bố cục. Điều 31 nằm tại Mục 3 Chương III Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ 2019) về thực hiện hợp đồng lao động. Điều luật chỉ gồm một khoản, quy định nghĩa vụ kép của hai bên khi thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động chấm dứt: người lao động phải có mặt, người sử dụng lao động phải nhận trở lại.

Ba yếu tố cấu thành. Thứ nhất, thời hạn: trong 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn. Thứ hai, nghĩa vụ của người lao động: có mặt tại nơi làm việc. Thứ ba, nghĩa vụ của người sử dụng lao động: nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã giao kết, với điều kiện hợp đồng lao động còn thời hạn.

Hai ngoại lệ. Nghĩa vụ nhận trở lại không phát sinh khi: (i) hai bên có thỏa thuận khác; hoặc (ii) pháp luật có quy định khác. Ngoại lệ thứ hai dẫn chiếu tới các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động tại Điều 34 BLLĐ 2019, ví dụ người lao động bị kết án phạt tù hoặc hợp đồng đã hết hạn trong thời gian tạm hoãn.

Liên hệ thực tiễn. Người lao động tạm hoãn hợp đồng để thực hiện nghĩa vụ quân sự, hết thời hạn trở về trong 15 ngày phải có mặt tại công ty; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng, người sử dụng lao động có thể xử lý theo nội quy lao động. Ngược lại, nếu công ty từ chối nhận trở lại dù hợp đồng còn thời hạn và không có thỏa thuận khác, hành vi này bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, kéo theo nghĩa vụ bồi thường theo Điều 41 BLLĐ 2019.

Ý nghĩa. Điều 31 bảo đảm tính liên tục của quan hệ lao động, cân bằng lợi ích hai bên và tạo cơ sở pháp lý cho việc khôi phục việc làm sau thời gian tạm hoãn.

2. Nội dung điều luật và các quy định liên quan

Nội dung điều luật. Điều 31 Bộ luật Lao động 2019 quy định nghĩa vụ kép của hai bên khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thứ nhất, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc. Thứ hai, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết. Nghĩa vụ nhận lại chỉ đặt ra khi hợp đồng lao động còn thời hạn.

Hai ngoại lệ. Điều luật loại trừ nghĩa vụ nhận lại trong hai trường hợp: hai bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Thỏa thuận có thể là thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, thỏa thuận bố trí công việc mới. Quy định khác của pháp luật có thể dẫn chiếu tới Điều 30 Bộ luật Lao động 2019 về tạm hoãn và Điều 34 về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động.

Hệ quả pháp lý. Nếu người lao động không có mặt trong thời hạn 15 ngày mà không có lý do chính đáng, người sử dụng lao động có thể xử lý theo thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động và Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 về kỷ luật lao động. Ngược lại, nếu người sử dụng lao động không nhận người lao động trở lại, hành vi này bị coi là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, có thể dẫn tới tranh chấp lao động cá nhân theo Điều 179 Bộ luật Lao động 2019.

Ví dụ thực tiễn. Chị A tạm hoãn hợp đồng lao động để thực hiện nghĩa vụ quân sự theo Điều 30. Hợp đồng còn thời hạn đến năm 2026. Ngày 01/3/2025 chị xuất ngũ, thời hạn tạm hoãn chấm dứt. Chị A phải có mặt tại công ty trước ngày 16/3/2025. Công ty phải nhận chị trở lại làm công việc cũ. Nếu công ty từ chối, chị A có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo trình tự giải quyết tranh chấp lao động.

Lưu ý áp dụng. Thời hạn 15 ngày là thời hạn luật định, không phụ thuộc thỏa thuận của các bên, trừ khi hai bên thống nhất kéo dài hoặc rút ngắn bằng văn bản. Khi hợp đồng lao động đã hết thời hạn trong thời gian tạm hoãn, nghĩa vụ nhận lại không phát sinh; các bên xử lý theo quy định chấm dứt hợp đồng lao động tại Điều 34 Bộ luật Lao động 2019.

3. Phân tích các khái niệm, quyền và nghĩa vụ pháp lý

Khái niệm. Điều 31 Bộ luật Lao động 2019 xác lập cơ chế phục hồi quan hệ lao động sau khi chấm dứt tình trạng tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. “Tạm hoãn” là việc hai bên tạm dừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng trong một thời hạn nhất định, nhưng hợp đồng vẫn tồn tại. “Nhận lại người lao động” là hành vi của người sử dụng lao động tiếp nhận người lao động trở lại làm việc theo đúng công việc đã giao kết, không được tự ý thay đổi công việc.

Nghĩa vụ của người lao động. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc. Đây là nghĩa vụ pháp lý, không phải quyền lựa chọn. Việc vắng mặt không có lý do chính đáng có thể bị coi là không thực hiện nghĩa vụ theo Điều 31.

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã giao kết. Nghĩa vụ này phát sinh khi hội đủ hai điều kiện: (i) người lao động có mặt trong thời hạn 15 ngày; (ii) hợp đồng lao động còn thời hạn. Ví dụ: hợp đồng 24 tháng, tạm hoãn 3 tháng, còn 9 tháng — người sử dụng lao động buộc phải nhận lại, không được ký hợp đồng mới thay thế hay đơn phương chấm dứt.

Ngoại lệ. Điều 31 mở hai cửa: hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác. Thỏa thuận phải rõ ràng, tự nguyện, không trái pháp luật; nếu không, nghĩa vụ nhận lại vẫn phát sinh. Hết thời hạn hợp đồng trong lúc tạm hoãn thì nghĩa vụ nhận lại không đặt ra.

Hệ quả. Không nhận lại người lao động khi đủ điều kiện bị xem là hành vi trái pháp luật về nghĩa vụ của người sử dụng lao động, làm phát sinh trách nhiệm tương ứng theo Bộ luật Lao động 2019.

4. Mối liên hệ với các điều luật khác

Liên hệ Điều 30, 32, 33, 34 Bộ luật Lao động 2019. Điều 31 là mắt xích nối giữa tạm hoãn (Điều 30) và chấm dứt/xử lý hậu tạm hoãn (Điều 34, 36). Điều 30 khoản 2 buộc người sử dụng lao động nhận lại khi hết thời hạn tạm hoãn; Điều 31 cụ thể hóa thời hạn 15 ngày và nghĩa vụ bố trí công việc theo hợp đồng đã giao kết. Nếu quá 15 ngày người lao động không có mặt mà không có thỏa thuận khác, người sử dụng lao động có căn cứ xử lý theo Điều 125 (kỷ luật lao động) hoặc chấm dứt theo Điều 36 khoản 1 điểm e (người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 30 ngày).

Liên hệ Điều 32, 33, 34. Khi nhận lại, các quyền gắn với thâm niên được bảo toàn: Điều 65 (thời gian làm việc để tính phép năm) tính cả thời gian tạm hoãn; Điều 48 (trợ cấp thôi việc) tính thời gian đã làm việc thực tế. Điều 31 không làm mất hiệu lực hợp đồng đã giao kết — hợp đồng chỉ "tạm ngưng thực hiện", nên khi trở lại, các điều khoản cũ (lương, chức danh) tiếp tục áp dụng, trừ khi hai bên thỏa thuận sửa đổi theo Điều 33.

Liên hệ Điều 34 khoản 1 điểm đ và Điều 36. Điều 31 là điều kiện tiên quyết để xác định hợp đồng "còn thời hạn" hay đã hết hạn trong thời gian tạm hoãn. Ví dụ: hợp đồng 12 tháng, tạm hoãn 6 tháng vì nghĩa vụ quân sự. Hết tạm hoãn, hợp đồng còn 6 tháng — Điều 31 buộc nhận lại. Ngược lại, nếu thời hạn tạm hoãn vượt thời hạn hợp đồng, hợp đồng chấm dứt theo Điều 34 khoản 1 điểm a (hết hạn), Điều 31 không áp dụng vì điều kiện "hợp đồng còn thời hạn" không thỏa mãn.

Liên hệ Điều 30 khoản 1 điểm b và Điều 34 khoản 1 điểm đ. Trường hợp tạm hoãn do người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự: khi xuất ngũ, người lao động được ưu tiên nhận lại việc làm trong 15 ngày (Điều 31). Nếu người sử dụng lao động từ chối nhận lại không có lý do chính đáng, người lao động có quyền khiếu nại theo Điều 190 hoặc khởi kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự; đồng thời có thể yêu cầu bồi thường theo Điều 41 (nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt trái pháp luật).

Liên hệ Điều 16, 17 (giao kết hợp đồng). Điều 31 giả định hợp đồng đã giao kết hợp pháp và còn hiệu lực. Nếu hợp đồng vô hiệu từng phần theo Điều 51, việc nhận lại phải xử lý theo Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Thực tiễn: nhiều tranh chấp phát sinh do người sử dụng lao động cho rằng "hết thời hạn tạm hoãn" nhưng không thông báo bằng văn bản — Điều 31 không quy định hình thức thông báo, nhưng nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động theo Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự khi có tranh chấp.

5. Thực tiễn áp dụng và lưu ý

Thực tiễn áp dụng và lưu ý

Điều 31 Bộ luật Lao động 2019 xác lập nghĩa vụ kép: người lao động phải có mặt trong 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn; người sử dụng lao động phải nhận trở lại nếu hợp đồng còn thời hạn. Thực tiễn phát sinh ba nhóm vướng mắc.

Thứ hai, hệ quả khi người lao động vắng mặt quá 15 ngày. Điều 31 không trực tiếp quy định chế tài. Khi đó phải viện dẫn Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 về sa thải do tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong 365 ngày. Doanh nghiệp phải chứng minh đã thông báo, đôn đốc; không được mặc nhiên coi là đương nhiên chấm dứt.

Thứ ba, ngoại lệ "hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác". Doanh nghiệp được bố trí công việc khác nếu vị trí cũ không còn, nhưng phải thương lượng và không được giảm lương trái quy định (Điều 29 Bộ luật Lao động 2019).

Ví dụ: Chị A tạm hoãn hợp đồng để sinh con. Hết thời hạn, chị trở lại sau 10 ngày nhưng công ty đã tuyển người thay thế và từ chối nhận. Công ty vi phạm Điều 31; chị A có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện yêu cầu nhận lại làm việc và bồi thường theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019.

Lưu ý thực hành: (i) ghi rõ ngày kết thúc tạm hoãn trong văn bản thỏa thuận; (ii) ban hành quy chế thông báo bằng văn bản trước khi hết hạn; (iii) lưu giữ chứng cứ về việc đôn đốc, mời nhận việc; (iv) kiểm tra thời hạn còn lại của hợp đồng trước khi từ chối nhận lại.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Lao động 2019 - Điều 31
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp