Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Cấp dưỡng sau ly hôn là nghĩa vụ dân sự của một bên vợ hoặc chồng (hoặc cha, mẹ) phải chu cấp tiền hoặc tài sản khác để nuôi dưỡng, chăm sóc người được cấp dưỡng sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Nghĩa vụ này phát sinh từ quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân, không phụ thuộc vào việc các bên còn chung sống hay không.
Căn cứ trực tiếp là Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Sau ly hôn, khi con do một bên trực tiếp nuôi dưỡng, bên kia đương nhiên thuộc trường hợp "không sống chung với con" và phải cấp dưỡng, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác phù hợp với quyền lợi của con.
Nghĩa vụ này còn được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2015 với tư cách là nghĩa vụ dân sự chung: xác định mức cấp dưỡng, phương thức thực hiện, thay đổi mức cấp dưỡng khi có lý do chính đáng, và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng. Trường hợp người có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện, bản án hoặc quyết định của Tòa án được tổ chức thi hành theo Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014); khoản cấp dưỡng được ưu tiên thi hành và không được cấn trừ tùy tiện.
Ví dụ thực tiễn: anh A và chị B ly hôn, Tòa án giao con chung 8 tuổi cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh A không sống chung với con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng hằng tháng theo Điều 110. Nếu anh A từ chối, chị B có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành.
Cần phân biệt: cấp dưỡng sau ly hôn không phải là chia tài sản chung, mà là nghĩa vụ nuôi dưỡng độc lập, tồn tại song song và kéo dài đến khi người được cấp dưỡng đủ điều kiện tự nuôi mình.
Căn cứ pháp lý: Điều 115 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng; Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con; Điều 107 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng; Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định khái niệm nghĩa vụ; Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng.
Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng
Theo Điều 115 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ, chồng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau khi ly hôn nếu một bên lâm vào tình trạng khó khăn, túng thiếu, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, trong khi bên kia có khả năng kinh tế để cấp dưỡng. Nghĩa vụ này chỉ phát sinh sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án.
Ba điều kiện cần hội đủ:
Ví dụ thực tiễn
Anh A và chị B ly hôn. Chị B bị tai nạn, mất khả năng lao động, không có tài sản riêng. Anh A có thu nhập ổn định 20 triệu đồng/tháng. Tòa án có thể buộc anh A cấp dưỡng cho chị B theo Điều 115 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, mức cấp dưỡng do hai bên thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định căn cứ thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.
Phân biệt với cấp dưỡng cho con
Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 độc lập, phát sinh khi cha, mẹ không sống chung với con hoặc vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng theo Điều 115 chỉ đặt ra khi một bên rơi vào hoàn cảnh đặc biệt sau ly hôn, không đương nhiên phát sinh.
Thi hành
Khi bản án, quyết định có hiệu lực mà người có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện, người được cấp dưỡng yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự cưỡng chế theo Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014), gồm khấu trừ thu nhập, kê biên tài sản.
Nguyên tắc xác định mức cấp dưỡng. Pháp luật không ấn định con số cố định. Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận trên cơ sở thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 xác lập nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình — đây là căn cứ xác định đối tượng được cấp dưỡng, từ đó xác định mức cấp dưỡng tương ứng với nhu cầu của đối tượng đó.
Căn cứ Tòa án xem xét. Khi giải quyết, Tòa án căn cứ vào thu nhập thực tế, khả năng tài chính của người cấp dưỡng; nhu cầu chính đáng của người được cấp dưỡng (ăn, ở, học tập, chữa bệnh); điều kiện kinh tế — xã hội nơi cư trú; và trách nhiệm nuôi dưỡng của cả cha và mẹ. Mức cấp dưỡng phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của con, không được thấp hơn mức tối thiểu cần thiết để nuôi dưỡng, chăm sóc con.
Ví dụ thực tiễn. Cha mẹ ly hôn, con 8 tuổi ở với mẹ. Cha có thu nhập 20 triệu đồng/tháng, mẹ 10 triệu đồng/tháng. Tòa án có thể xác định mức cấp dưỡng theo tỷ lệ tương ứng khả năng của mỗi bên, bảo đảm tổng mức đủ trang trải nhu cầu thiết yếu của con. Nếu cha không chứng minh được thu nhập, Tòa án căn cứ mức thu nhập bình quân nơi cư trú để xác định.
Thay đổi mức cấp dưỡng. Khi có lý do chính đáng (thu nhập thay đổi, con ốm đau, chi phí học tập tăng), các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng. Bản án, quyết định về cấp dưỡng được thi hành theo Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014); người không tự nguyện thi hành bị cưỡng chế, kể cả khấu trừ thu nhập.
Hình thức cấp dưỡng. Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 xác định hai hình thức: cấp dưỡng định kỳ (hàng tháng, hàng quý, hàng năm) và cấp dưỡng một lần. Các bên được quyền thỏa thuận hình thức, mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện; thỏa thuận không trái pháp luật, không trốn tránh nghĩa vụ. Không thỏa thuận được, Tòa án quyết định theo Điều 117. Thực tiễn xét xử cho thấy cấp dưỡng định kỳ hàng tháng được áp dụng phổ biến do phù hợp thu nhập người có nghĩa vụ; cấp dưỡng một lần chỉ phù hợp khi người cấp dưỡng có khả năng tài chính và hai bên thống nhất nhằm chấm dứt tranh chấp kéo dài.
Thời điểm thực hiện. Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc từ thời điểm do các bên thỏa thuận. Trường hợp cha, mẹ vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng theo Điều 110, thời điểm được tính từ khi hành vi vi phạm phát sinh.
Thời hạn cấp dưỡng. Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:
Ví dụ thực tiễn. Anh A và chị B ly hôn năm 2020, con chung sinh năm 2015. Tòa án buộc anh A cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng, hình thức định kỳ, thời điểm từ ngày bản án có hiệu lực. Nghĩa vụ chấm dứt khi con đủ 18 tuổi, trừ trường hợp con mất khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình.
Thi hành nghĩa vụ. Theo Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014), khoản cấp dưỡng là khoản phải thi hành; người không tự nguyện thi hành bị cưỡng chế, kể cả khấu trừ thu nhập, phong tỏa tài khoản theo quy định.
Thủ tục yêu cầu cấp dưỡng
Căn cứ Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình khi không sống chung với con hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng. Khi bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện, bên được cấp dưỡng hoặc người giám hộ có quyền yêu cầu theo trình tự sau:
Ví dụ thực tiễn: Sau ly hôn, anh A không chu cấp cho con chưa thành niên dù có thu nhập ổn định. Chị B (mẹ trực tiếp nuôi con) gửi đơn khởi kiện kèm giấy khai sinh và bảng lương của anh A. Tòa án xác định mức cấp dưỡng hàng tháng; anh A không tự nguyện, chị B yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án khấu trừ vào lương để chuyển cho con.
Lưu ý: nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 110 là nghĩa vụ pháp lý, không phụ thuộc việc bên kia có yêu cầu hay không; người được cấp dưỡng có thể yêu cầu bất kỳ lúc nào khi điều kiện phát sinh.
Người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện đúng cam kết hoặc bản án, quyết định của Tòa án thì bên được cấp dưỡng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành theo Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014).
Bước xử lý:
Ví dụ thực tiễn: Anh A theo bản án ly hôn phải cấp dưỡng cho con 3.000.000 đồng/tháng nhưng nhiều tháng không chuyển. Chị B (mẹ trực tiếp nuôi con) nộp đơn yêu cầu thi hành án. Chấp hành viên khấu trừ một phần tiền lương của anh A tại cơ quan để chuyển cho con. Nếu anh A cố tình trốn tránh, có thể bị xử lý về hành vi không chấp hành án.
Lưu ý: Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản tự nuôi mình được quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Quyền yêu cầu cấp dưỡng và thay đổi mức cấp dưỡng thực hiện theo các điều luật liên quan của Luật này và Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ cấp dưỡng.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: