Điều 29. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động 1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm thì chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản. Người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động. 2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động. 3. Người lao động chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khái quát Điều 29 Bộ luật Lao động 2019
Điều 29 quy định quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động. Đây là ngoại lệ của nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng lao động, chỉ phát sinh khi có căn cứ luật định.
Về căn cứ chuyển (khoản 1): Người sử dụng lao động được chuyển tạm thời khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm; áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; sự cố điện, nước; hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Thời hạn tối đa 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm. Vượt quá giới hạn này chỉ thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản. Trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động phải quy định cụ thể trong nội quy lao động.
Về nghĩa vụ thông báo (khoản 2): Phải báo trước ít nhất 03 ngày làm việc, nêu rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính người lao động.
Về tiền lương (khoản 3): Trả lương theo công việc mới. Nếu thấp hơn lương công việc cũ thì giữ nguyên lương cũ trong 30 ngày làm việc; lương công việc mới ít nhất bằng 85% lương công việc cũ và không thấp hơn mức lương tối thiểu.
Về ngừng việc (khoản 4): Người lao động không đồng ý làm công việc khác quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao động trả lương ngừng việc theo Điều 99 Bộ luật này.
Ví dụ thực tiễn: Doanh nghiệp dệt may gặp sự cố điện kéo dài, điều chuyển công nhân may sang đóng gói trong 20 ngày. Doanh nghiệp phải báo trước 03 ngày làm việc, bảo đảm công việc phù hợp sức khỏe, giữ nguyên lương cũ 30 ngày làm việc nếu lương mới thấp hơn. Nếu sau 60 ngày cộng dồn trong năm mà vẫn cần chuyển tiếp thì phải có văn bản đồng ý của người lao động.
Điều 29 cân bằng quyền điều hành sản xuất của người sử dụng lao động với bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động.
Điều 29 Bộ luật Lao động 2019 quy định quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động. Theo khoản 1, người sử dụng lao động được chuyển tạm thời khi gặp khó khăn đột xuất (thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước) hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Thời hạn tối đa 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; vượt quá mức này chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản. Đối với trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động phải quy định cụ thể trong nội quy lao động.
Khoản 2 đặt nghĩa vụ báo trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động. Khoản 3 bảo đảm quyền lợi tiền lương: trả theo công việc mới; nếu thấp hơn thì giữ nguyên lương cũ trong 30 ngày làm việc; mức lương mới ít nhất bằng 85% lương cũ và không thấp hơn mức lương tối thiểu. Khoản 4 dẫn chiếu Điều 99: nếu người lao động không đồng ý làm công việc khác quá 60 ngày cộng dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao động phải trả lương ngừng việc.
Ví dụ: doanh nghiệp gặp sự cố điện buộc tạm điều chuyển nhân viên văn phòng sang đóng gói 20 ngày. Doanh nghiệp phải báo trước 03 ngày làm việc, bảo đảm công việc phù hợp sức khỏe, trả lương theo công việc mới nhưng không thấp hơn 85% lương cũ và không dưới mức lương tối thiểu. Nếu kéo dài quá 60 ngày cộng dồn trong năm, phải có văn bản đồng ý của người lao động; nếu người lao động từ chối và phải ngừng việc, doanh nghiệp trả lương ngừng việc theo Điều 99.
Khái niệm "chuyển tạm thời". Điều 29 Bộ luật Lao động 2019 xác lập quyền đơn phương tạm thời của người sử dụng lao động khi có căn cứ luật định: khó khăn đột xuất (thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước) hoặc nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Tính "tạm thời" thể hiện ở giới hạn 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm; vượt ngưỡng này chỉ được thực hiện khi người lao động đồng ý bằng văn bản.
Quyền của người sử dụng lao động. Được điều động mà không cần thỏa thuận trong phạm vi 60 ngày, với hai điều kiện bắt buộc: (i) quy định cụ thể các trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động (khoản 1); (ii) báo trước ít nhất 03 ngày làm việc, nêu rõ thời hạn tạm thời và bố trí công việc phù hợp sức khỏe, giới tính (khoản 2).
Quyền của người lao động. Được trả lương theo công việc mới; nếu thấp hơn lương cũ thì giữ nguyên lương cũ trong 30 ngày làm việc; mức lương mới ít nhất bằng 85% lương cũ và không thấp hơn mức lương tối thiểu (khoản 3). Không đồng ý làm quá 60 ngày mà phải ngừng việc thì được trả lương ngừng việc theo Điều 99 (khoản 4).
Ví dụ. Doanh nghiệp dệt may gặp sự cố điện, điều chuyển công nhân may sang đóng gói 45 ngày. Phải báo trước 03 ngày làm việc; nếu lương đóng gói thấp hơn, giữ nguyên lương may 30 ngày đầu, các ngày sau không dưới 85% lương may và không thấp hơn lương tối thiểu vùng.
Nghĩa vụ đối ứng. Người lao động phải chấp hành điều động hợp pháp trong 60 ngày; chỉ có quyền từ chối phần vượt ngưỡng. Vi phạm trình tự báo trước hoặc hạn mức, người sử dụng lao động có thể bị xử lý theo quy định pháp luật lao động.
Liên hệ Điều 99 — tiền lương ngừng việc. Khoản 4 Điều 29 dẫn chiếu trực tiếp Điều 99. Người lao động từ chối chuyển quá 60 ngày cộng dồn/năm mà phải ngừng việc thì được trả lương ngừng việc. Điều 99 buộc trả đủ lương nếu ngừng việc do lỗi người sử dụng lao động; nếu do sự cố khách quan thì trả theo thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu. Ví dụ: dịch bệnh khiến xưởng dừng, người lao động không đồng ý chuyển sang công việc khác quá hạn 60 ngày — người sử dụng lao động vẫn phải trả lương ngừng việc, không được coi là đơn phương chấm dứt.
Liên hệ Điều 21 — nội quy lao động. Khoản 1 Điều 29 yêu cầu người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy lao động các trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh được tạm thời chuyển công việc. Nội quy lao động thuộc nội dung hợp đồng lao động theo Điều 21. Thiếu quy định này, việc chuyển công việc vì nhu cầu sản xuất, kinh doanh dễ bị coi là trái pháp luật.
Liên hệ Điều 17 — hành vi bị nghiêm cấm. Điều 29 giới hạn thời hạn 60 ngày và điều kiện đồng ý bằng văn bản; vi phạm có thể cấu thành hành vi buộc người lao động làm công việc khác trái hợp đồng lao động — bị nghiêm cấm theo Điều 17.
Liên hệ Điều 90, 94 — tiền lương. Khoản 3 Điều 29 đặt sàn 85% lương công việc cũ và không thấp hơn lương tối thiểu, phù hợp nguyên tắc trả lương theo công việc tại Điều 90. Thực tiễn: chuyển nhân viên văn phòng sang đóng gói trong 45 ngày — phải giữ nguyên lương cũ 30 ngày làm việc đầu, sau đó không dưới 85% và không dưới lương tối thiểu vùng.
Liên hệ Điều 36 — chấm dứt hợp đồng. Việc chuyển công việc không làm thay đổi hợp đồng đã giao kết; hết thời hạn tạm chuyển, người lao động trở lại công việc cũ. Không được lấy việc chuyển tạm thời để hợp thức hóa thay đổi nội dung hợp đồng.
Thực tiễn áp dụng và lưu ý
Điều 29 Bộ luật Lao động 2019 giới hạn quyền chuyển tạm thời ở mức 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm. Vượt ngưỡng này, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý bằng văn bản của người lao động (khoản 1). Thực tiễn cho thấy tranh chấp thường phát sinh ở hai điểm: cách tính "cộng dồn" và căn cứ "nhu cầu sản xuất, kinh doanh".
Về cách tính, doanh nghiệp dễ nhầm 60 ngày làm việc với 60 ngày dương lịch, dẫn tới vượt trần trái phép. Ví dụ: xí nghiệp chuyển công nhân đóng gói sang bộ phận khác 3 đợt, mỗi đợt 25 ngày làm việc trong cùng năm — tổng 75 ngày, vượt trần, buộc phải có văn bản đồng ý của người lao động. Không có văn bản, việc chuyển là trái luật.
Về căn cứ, khoản 1 yêu cầu người sử dụng lao động quy định cụ thể trong nội quy lao động những trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh được tạm thời chuyển công việc. Nội quy không nêu rõ mà vẫn chuyển là thiếu căn cứ, dễ bị xử lý theo Điều 29 và các quy định về kỷ luật, bồi thường.
Lưu ý về thủ tục: phải báo trước ít nhất 03 ngày làm việc, nêu rõ thời hạn tạm thời và bố trí công việc phù hợp sức khỏe, giới tính (khoản 2). Về tiền lương: trả theo công việc mới; nếu thấp hơn thì giữ nguyên lương cũ trong 30 ngày làm việc; mức mới ít nhất bằng 85% lương cũ và không thấp hơn lương tối thiểu (khoản 3). Trường hợp người lao động không đồng ý làm quá 60 ngày mà phải ngừng việc, người sử dụng lao động trả lương ngừng việc theo Điều 99 (khoản 4).
Khuyến nghị: ghi rõ căn cứ chuyển trong nội quy, lập văn bản thông báo và văn bản đồng ý, theo dõi sổ cộng dồn ngày chuyển để không vượt trần 60 ngày/năm.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: