| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Số: 296/2026/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 23 tháng 7 năm 2026 |
CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------- Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 296/2026/NĐ-CP Hà Nội, ngày 23 tháng 7 năm 2026
--------------------------- -------------------------------------------
NGHỊ ĐỊNH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 168/2025/NĐ-CP NGÀY 30
THÁNG 6 NĂM 2025 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số
điều bởi Luật số 03/2022/QH15, Luật số 76/2025/QH15;
Căn cứ Luật Đầu tư số 143/2025/QH15;
Căn cứ Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ về đăng ký
doanh nghiệp.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng
ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp,
trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký
doanh nghiệp và các báo cáo. Chủ sở hữu, cổ đông, thành viên của công ty
thực hiện đầy đủ quy định về tài sản góp vốn tại khoản 2 Điều 34 Luật
Doanh nghiệp, không đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh
nghiệp.”.
2. Bổ sung khoản 7 và khoản 8 vào sau khoản 6 như sau:
“7. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh khai thác, sử dụng thông tin đã
có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ sở dữ
liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác và không yêu cầu cá nhân,
tổ chức thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp nộp bản sao Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, Giấy
chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký thuế, Giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư chấp thuận
về việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước
ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, giấy phép thành lập và
hoạt động hoặc bản sao văn bản chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và các giấy tờ khác
trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp và Nghị
định này.
Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được
không đầy đủ, không chính xác thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
yêu cầu cá nhân, tổ chức bổ sung bản sao các giấy tờ nêu trên theo quy
định tại Luật Doanh nghiệp và Nghị định này để giải quyết thủ tục đăng
ký doanh nghiệp. Cá nhân, tổ chức thực hiện cập nhật, điều chỉnh thông
tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Việc khai thác, sử dụng thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu để thay
thế thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trên cơ sở kết nối, chia sẻ
thông tin giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ
sở dữ liệu khác thực hiện theo thông báo trên Cổng thông tin quốc gia về
đăng ký doanh nghiệp.
8. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm
giữ 100% vốn điều lệ, bản sao hoặc bản chính nghị quyết hoặc quyết định
của chủ sở hữu công ty, văn bản cử người đại diện theo ủy quyền của chủ
sở hữu là tổ chức trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại
Luật Doanh nghiệp và Nghị định này được thay thế bằng văn bản của tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định pháp luật về quản lý và đầu tư
vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan.”.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 12
“5. Người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký
doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung
thực và chính xác của việc ủy quyền. Người ủy quyền và người được ủy
quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp khi thực
hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi người đại
diện theo pháp luật, chủ sở hữu, thành viên của công ty trách nhiệm hữu
hạn, thông tin cổ đông sáng lập, cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài của
công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao
dịch chứng khoán, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh.
Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực
hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường
hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện
thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu
cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Nghị định
này.
Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực
điện tử thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo bản sao thẻ căn
cước hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ chiếu nước ngoài
hoặc các giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực
của người ủy quyền.
Điều 3. Sửa đổi, bổ sung Điều 17
“Điều 17. Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp
Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một
hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối
cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại
diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu
hưởng lợi của doanh nghiệp). Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá
nhân được xác định như sau:
1. Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở
hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết
trở lên của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc
từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp
thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.
Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình theo quy định tại khoản
22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp
hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều
lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh
nghiệp, doanh nghiệp xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu
hưởng lợi của doanh nghiệp.
Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là chủ sở hữu hưởng
lợi của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền
biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.
2. Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều
này, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy
định tại khoản 1 Điều này không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh
nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương
thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông
qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi
nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa
số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc,
Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ
cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của
doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.
3. Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 1,2 Điều
này, doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có
quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường
hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.”.
Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 18
“Điều 18. Kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh
nghiệp
1. Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định
chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 17 Nghị
định này và kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin
về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ
sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp thông qua việc rà soát từng cấp trong
cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi xác định được cá nhân có
quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế. Trường hợp
trong cơ cấu sở hữu có thỏa thuận pháp lý theo quy định của pháp luật về
phòng, chống rửa tiền thì chủ sở hữu hưởng lợi của thỏa thuận pháp lý
được xác định theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.
2. Việc kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi được thực hiện theo
thứ tự sau:
a) Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ
quan đăng ký kinh doanh thông tin của cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền
sở hữu quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định này;
b) Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều
17, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định
tại khoản 1 Điều 17 không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp,
người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ
quan đăng ký kinh doanh thông tin của một hoặc nhiều cá nhân đáp ứng
tiêu chí về quyền thực tế chi phối quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị
định này;
c) Trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1, 2
Điều 17 thì người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông
báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin của cá nhân được quy định
tại khoản 3 Điều 17 Nghị định này.”.
Điều 5. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 20
“2. Ở cấp xã:
a) Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn thì cơ
quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh là
phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ
đăng ký hộ kinh doanh theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương;
b) Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn
thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh
là Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh
quy định tại điểm a và điểm b khoản này (sau đây gọi là Cơ quan đăng ký
kinh doanh cấp xã) có tài khoản và con dấu.”.
Điều 6. Bổ sung khoản 8a vào sau khoản 8 Điều 21
“8a. Cập nhật, lưu trữ thông tin về cổ đông của công ty cổ phần không
phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán trong
Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 06 năm kể
từ ngày công ty giải thể theo quy định tại Nghị định này.”.
Điều 7. Bổ sung khoản 6 vào sau khoản 5 Điều 24
“6. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp trước khi
thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo
quy định của pháp luật về đầu tư thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp không
bao gồm bản sao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư quy định tại khoản 5 Điều
20, điểm c khoản 4 Điều 21 và điểm c khoản 4 Điều 22 Luật Doanh nghiệp.
Trong trường hợp này, giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung
cam kết đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước
ngoài theo quy định của pháp luật.”.
Điều 8. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 38
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử bao gồm các
giấy tờ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ
sung năm 2025 và Nghị định này được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử
hoặc dữ liệu điện tử theo quy định pháp luật. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
qua mạng thông tin điện tử có giá trị pháp lý tương đương hồ sơ đăng ký
doanh nghiệp bằng bản giấy.”.
2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 như sau:
“a) Có đầy đủ các giấy tờ và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ
theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được thể hiện dưới dạng văn bản
điện tử hoặc dữ liệu điện tử có đầy đủ thông tin theo quy định như hồ sơ
đăng ký bằng bản giấy;”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 như sau:
“d) Trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ
đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử phải kèm theo các giấy
tờ, tài liệu quy định tại Điều 12 Nghị định này và được thể hiện dưới
dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử quy định tại điểm a khoản
này.”.
Điều 9. Sửa đổi, bổ sung Điều 39
“Điều 39. Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện
tử
1. Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng
định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống
thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Người nộp hồ sơ thực hiện
thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy trình trên Hệ thống thông tin quốc
gia về đăng ký doanh nghiệp như sau:
a) Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị
đăng ký doanh nghiệp
Người nộp hồ sơ kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia về
đăng ký doanh nghiệp. Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội
dung được kê khai trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh
nghiệp và chỉ yêu cầu người nộp hồ sơ ký thì người nộp hồ sơ không phải
thực hiện ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định và không phải tải lên Hệ
thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đối với các giấy tờ
khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải
bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được
thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống
thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ
thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp yêu cầu nhiều người ký
và giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp
hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy
định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên
Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực
điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ,
người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả
điện tử;
b) Trường hợp người nộp hồ sơ là người được ủy quyền thực hiện thủ tục
đăng ký doanh nghiệp
Người nộp hồ sơ kê khai thông tin và tải các giấy tờ trong thành phần hồ
sơ đăng ký theo quy định lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký
doanh nghiệp. Các giấy tờ này phải được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy
định và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử.
Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực
điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ,
người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả
điện tử.
2. Các thông tin đăng ký doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia
về đăng ký doanh nghiệp được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế
để phối hợp, trao đổi thông tin giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
và Cơ quan thuế.
3. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và
trả kết quả giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp theo quy định tại Luật
Doanh nghiệp và Nghị định này. Người nộp hồ sơ đăng nhập vào Hệ thống
thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để nhận thông tin phản hồi về
kết quả xử lý hồ sơ.
4. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng
ký qua mạng thông tin điện tử có thể dừng thực hiện thủ tục đăng ký
doanh nghiệp theo quy định tại khoản 6 Điều 31 Nghị định này.”.
Điều 10. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 51
“c) Bản sao hoặc bản chính hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hoặc giấy tờ
chứng minh việc hoàn tất chuyển nhượng trong trường hợp chuyển nhượng cổ
phần; giấy tờ chứng minh việc góp vốn trong trường hợp cổ đông là nhà
đầu tư nước ngoài mua cổ phần chào bán riêng lẻ; hợp đồng tặng cho cổ
phần trong trường hợp tặng cho cổ phần;”.
Điều 11. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 60
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Trường hợp doanh nghiệp, chi nhánh, địa điểm kinh doanh tạm ngừng
kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo, văn
phòng đại diện tạm ngừng hoạt động hoặc tiếp tục hoạt động trước thời
hạn đã thông báo, doanh nghiệp gửi hồ sơ thông báo đến Cơ quan đăng ký
kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa
điểm kinh doanh đặt trụ sở chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tạm
ngừng kinh doanh, tạm ngừng hoạt động hoặc tiếp tục kinh doanh, tiếp tục
hoạt động trước thời hạn đã thông báo. Trường hợp doanh nghiệp, chi
nhánh, địa điểm kinh doanh có nhu cầu tiếp tục tạm ngừng kinh doanh, văn
phòng đại diện có nhu cầu tiếp tục tạm ngừng hoạt động sau khi hết thời
hạn đã thông báo thì phải gửi hồ sơ thông báo tạm ngừng đến Cơ quan đăng
ký kinh doanh cấp tỉnh chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tiếp tục
tạm ngừng. Thời hạn tạm ngừng của mỗi lần thông báo không được quá 12
tháng. Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá 24
tháng.”.
2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 như sau:
“a) Thông báo tạm ngừng kinh doanh, tạm ngừng hoạt động, trong đó bao
gồm thông tin về số điện thoại và địa chỉ thư điện tử của người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp;”.
3. Bổ sung khoản 7 và khoản 8 vào sau khoản 6 như sau:
“7. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, khi có thay đổi thông tin đăng
ký doanh nghiệp theo quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật Doanh nghiệp
năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị định này, doanh nghiệp
phải đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp
theo quy định.
8. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn tạm
ngừng kinh doanh đã thông báo, người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp phải xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại và cam kết đã thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp với Cơ quan đăng ký kinh doanh
cấp tỉnh theo quy trình trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký
doanh nghiệp.
Trường hợp không xác nhận trong thời hạn nêu trên, trong thời hạn 10
ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn yêu cầu xác nhận nêu trên, Cơ
quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh gửi văn bản yêu cầu doanh nghiệp báo
cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 216 Luật Doanh nghiệp đồng
thời gửi Cơ quan quản lý thuế để phối hợp quản lý nhà nước.
Trường hợp doanh nghiệp không gửi báo cáo đến Cơ quan đăng ký kinh doanh
cấp tỉnh trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo, Cơ quan
đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 69 Nghị định này. Doanh nghiệp
phải thực hiện thủ tục giải thể theo quy định tại Điều 65 Nghị định
này.”.
Điều 12. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 61
“3. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, đình chỉ hoạt động, chấm dứt
kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi có thay
đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật
Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị định này,
doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi nội dung đăng ký
doanh nghiệp theo quy định.”.
Điều 13. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 64
“3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hết các khoản
nợ của doanh nghiệp, doanh nghiệp gửi hồ sơ đăng ký giải thể doanh
nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ
sở chính, hồ sơ đăng ký giải thể doanh nghiệp bao gồm các giấy tờ quy
định tại khoản 1 Điều 210 Luật Doanh nghiệp. Đối với công ty cổ phần
không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán,
thông báo về việc giải thể doanh nghiệp trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
phải kèm theo bản sao sổ đăng ký cổ đông.”.
Điều 14. Sửa đổi, bổ sung Điều 72
“Điều 72. Quy trình chuyển tình trạng pháp lý, đình chỉ thủ tục phá sản,
hủy quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản
1. Việc chuyển tình trạng pháp lý sau khi có quyết định mở thủ tục phá
sản, quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản của Tòa án
a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định mở
thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển
tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang tình trạng đang làm thủ tục phá
sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh
doanh sang tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ
liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định,
trích lục quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản của Tòa án, Cơ quan
đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp
sang tình trạng đã phá sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng
đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng đã chấm dứt hoạt động
trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;
c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định không
mở thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh lưu
giữ thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đình
chỉ thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, tình trạng pháp lý của chi
nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng pháp lý
trước thời điểm có quyết định mở thủ tục phá sản trong Cơ sở dữ liệu
quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải
quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị quyết định đình chỉ thủ tục phá sản
của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh lưu giữ thông tin tại Cơ
sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp Tòa án
giữ nguyên quyết định đình chỉ thủ tục phá sản hoặc chuyển tình trạng
pháp lý của doanh nghiệp sang tình trạng đang làm thủ tục phá sản, tình
trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh
sang tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ liệu
quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp Tòa án hủy quyết
định đình chỉ thủ tục phá sản và giao cho Thẩm phán tiến hành giải quyết
thủ tục phá sản.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hủy
quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản và giao hồ sơ cho Tòa án nhân
dân cấp dưới có thẩm quyền giải quyết lại của Tòa án, Cơ quan đăng ký
kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang tình
trạng đang làm thủ tục phá sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn
phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng đang làm thủ tục
chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
5. Thông tin về việc doanh nghiệp đang làm thủ tục phá sản hoặc đã phá
sản và chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đang làm thủ
tục chấm dứt hoạt động hoặc đã chấm dứt hoạt động được truyền sang Hệ
thống ứng dụng đăng ký thuế để cập nhật.”.
Điều 15. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 93
“5. Người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hộ
kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực
và chính xác của việc ủy quyền. Người ủy quyền và người được ủy quyền
phải thực hiện xác thực điện tử để được cấp đăng ký hộ kinh doanh khi
thực hiện thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi chủ
hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh
doanh.
Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực
hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký hộ kinh doanh.
Trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền
thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh thì Cơ quan đăng ký kinh doanh
cấp xã yêu cầu hộ kinh doanh báo cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 22
Nghị định này.
Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực
điện tử thì hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh phải kèm theo bản sao thẻ Căn
cước hoặc thẻ Căn cước công dân còn hiệu lực của người ủy quyền.”.
Điều 16. Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 103
“5. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, khi có thay đổi thông tin đăng
ký hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 100 Nghị định này, hộ kinh doanh
phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hộ kinh doanh theo quy định.”.
Điều 17. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 112
1. Sửa đổi khoản 1 như sau:
“1. Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin điện tử bao gồm các
giấy tờ theo quy định tại Nghị định này và được thể hiện dưới dạng văn
bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử. Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh qua mạng
thông tin điện tử có giá trị pháp lý tương đương hồ sơ đăng ký hộ kinh
doanh bằng bản giấy.”.
2. Sửa đổi điểm a khoản 2 như sau:
“a) Có đầy đủ các giấy tờ và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ
theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được thể hiện dưới dạng văn bản
điện tử hoặc dữ liệu điện tử có đầy đủ thông tin theo quy định như hồ sơ
đăng ký bằng bản giấy. Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với
tên loại giấy tờ trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh bằng bản giấy;”.
3. Sửa đổi điểm d khoản 2 như sau:
“d) Trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh, hồ sơ
đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin điện tử phải kèm theo các giấy
tờ, tài liệu quy định tại Điều 93 Nghị định này được thể hiện dưới dạng
văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử theo quy định.”.
4. Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 như sau:
“4. Trường hợp hồ sơ được tiếp nhận trên Hệ thống thông tin về đăng ký
hộ kinh doanh sau giờ hành chính hoặc vào ngày nghỉ, ngày lễ, Tết theo
quy định thì thời hạn trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh
doanh quy định tại Nghị định này được tính từ ngày làm việc kế tiếp của
ngày hồ sơ được tiếp nhận.”.
Điều 18. Sửa đổi, bổ sung Điều 113
“Điều 113. Trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin
điện tử”
1. Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng
định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống
thông tin về đăng ký hộ kinh doanh. Người nộp hồ sơ thực hiện thủ tục
đăng ký hộ kinh doanh theo quy trình trên Hệ thống thông tin về đăng ký
hộ kinh doanh như sau:
a) Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị
đăng ký hộ kinh doanh
Người nộp hồ sơ kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ
kinh doanh. Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê
khai trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh và chỉ yêu cầu
người nộp hồ sơ ký thì người nộp hồ sơ không phải thực hiện ký số và tải
lên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh. Đối với các giấy tờ
khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải
bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được
thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống
thông tin về đăng ký hộ kinh doanh.
Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ
thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh yêu cầu nhiều người ký và giấy
tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ
phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định,
được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ
thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh.
Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực
điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ,
người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả
điện tử;
b) Trường hợp người nộp hồ sơ là người được ủy quyền thực hiện thủ tục
đăng ký hộ kinh doanh
Người nộp hồ sơ kê khai thông tin và tải các giấy tờ trong thành phần hồ
sơ đăng ký theo quy định lên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh
doanh. Các giấy tờ này phải được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định
và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử.
Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực
điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ,
người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả
điện tử.
2. Các thông tin đăng ký hộ kinh doanh trên Hệ thống thông tin về đăng
ký hộ kinh doanh được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế để phối
hợp, trao đổi thông tin giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã và cơ
quan thuế.
3. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và
trả kết quả giải quyết hồ sơ cho hộ kinh doanh theo quy định tại Nghị
định này. Người nộp hồ sơ đăng nhập vào Hệ thống thông tin về đăng ký hộ
kinh doanh để nhận thông tin phản hồi về kết quả xử lý hồ sơ.
4. Hộ kinh doanh thực hiện thủ tục đăng ký qua mạng thông tin điện tử có
thể dừng thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại khoản
5 Điều 95 Nghị định này.”.
Điều 19. Thay thế, bãi bỏ một số cụm từ, khoản
1. Thay thế cụm từ “bản dịch tiếng Việt công chứng” bằng cụm từ “bản
dịch tiếng Việt được chứng thực chữ ký người dịch” tại khoản 2 Điều 10.
2. Thay thế cụm từ “các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này” bằng
cụm từ “các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 8a Điều này” tại khoản 9
Điều 21.
3. Thay thế cụm từ “03 ngày làm việc” bằng cụm từ “02 ngày làm việc” tại
khoản 6 Điều 31, khoản 5 Điều 56, khoản 4 Điều 66, các khoản 1, 2, 3 và
4 Điều 77, khoản 5 Điều 95, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 115.
4. Thay thế cụm từ “Hệ thống thông tin đăng ký thuế” bằng cụm từ “Hệ
thống ứng dụng đăng ký thuế” tại khoản 2 Điều 53.
5. Thay thế cụm từ “nơi đặt địa điểm kinh doanh” bằng cụm từ “theo quy
định pháp luật” tại khoản 2 Điều 87.
6. Bãi bỏ cụm từ “và danh sách người đại diện theo ủy quyền” tại khoản 3
Điều 54.
7. Bãi bỏ cụm từ “nơi đã nộp hồ sơ” tại khoản 5 Điều 95.
8. Bãi bỏ cụm từ “nơi hộ kinh doanh đăng ký trụ sở” tại khoản 1 Điều 99.
9. Bãi bỏ Điều 37, khoản 2 Điều 52, Điều 111, khoản 3 Điều 124.
Điều 20. Xử lý hồ sơ tiếp nhận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi
hành
1. Trường hợp hồ sơ đăng ký giải thể, thông báo tạm ngừng kinh doanh
được tiếp nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chấp
thuận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì việc giải quyết
thủ tục này thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, việc giải quyết thủ tục
đăng ký doanh nghiệp đối với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đã được tiếp
nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chấp thuận trước
ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định tại
Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.
3. Việc giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh đối với hồ sơ đăng ký
hộ kinh doanh đã được tiếp nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh
cấp xã chấp thuận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thực
hiện theo quy định tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.
Điều 21. Điều khoản chuyển tiếp
1. Quy định về tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không quá
24 tháng quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định này được áp dụng đối với
doanh nghiệp đã thông báo tạm ngừng kinh doanh trước ngày Nghị định này
có hiệu lực thi hành như sau:
a) Trường hợp tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp đến thời
điểm kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất chưa
vượt quá 24 tháng thì doanh nghiệp được tiếp tục đăng ký tạm ngừng kinh
doanh nhưng phải bảo đảm tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp,
bao gồm cả thời gian đã đăng ký trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi
hành, không được vượt quá 24 tháng;
b) Trường hợp tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp đến thời
điểm kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất đã
vượt quá 24 tháng thì doanh nghiệp không được tiếp tục đăng ký tạm ngừng
kinh doanh sau khi thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất
kết thúc.
2. Quy định về xác nhận tiếp tục kinh doanh trở lại khi kết thúc thời
hạn tạm ngừng kinh doanh quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này được
áp dụng đối với doanh nghiệp thông báo tạm ngừng kinh doanh kể từ ngày
Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Điều 22. Điều khoản thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 23 tháng 7 năm 2026.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã,
phường, đặc khu và các đối tượng áp dụng của Nghị định chịu trách nhiệm
thi hành Nghị định này.
----------------------------------- -----------------------------------
Nơi nhận: TM. CHÍNH PHỦ
- Ban Bí thư Trung ương Đảng; KT. THỦ TƯỚNG
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng PHÓ THỦ TƯỚNG
Chính phủ; Nguyễn Văn Thắng
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban
của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban
của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam;
- Cơ quan trung ương của các tổ
chức chính trị - xã hội;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg,
các Vụ, Cục, Công báo;
- Lưu: VT, KTTH (2).
----------------------------------- -----------------------------------