Nghị định 296/2026/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 168/2025/nđ-cp ngày 30 - Toàn văn | Công ty Luật Minh Bạch

Nghị định 296/2026/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 168/2025/nđ-cp ngày 30

Cập nhật quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam

Cập nhật: 10/08/2026 · Công ty Luật Minh Bạch

Lĩnh vực: Doanh nghiệp · Tài liệu tham khảo nội bộ, toàn văn được lưu giữ dưới dạng văn bản gốc.

CHÍNH PHỦCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 296/2026/NĐ-CPHà Nội, ngày 23 tháng 7 năm 2026

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

------- Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------

Số: 296/2026/NĐ-CP Hà Nội, ngày 23 tháng 7 năm 2026

--------------------------- -------------------------------------------

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 168/2025/NĐ-CP NGÀY 30

THÁNG 6 NĂM 2025 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;

Căn cứ Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số

điều bởi Luật số 03/2022/QH15, Luật số 76/2025/QH15;

Căn cứ Luật Đầu tư số 143/2025/QH15;

Căn cứ Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định

số 168/2025/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ về đăng ký

doanh nghiệp.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng

ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp,

trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký

doanh nghiệp và các báo cáo. Chủ sở hữu, cổ đông, thành viên của công ty

thực hiện đầy đủ quy định về tài sản góp vốn tại khoản 2 Điều 34 Luật

Doanh nghiệp, không đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh

nghiệp.”.

2. Bổ sung khoản 7 và khoản 8 vào sau khoản 6 như sau:

“7. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh khai thác, sử dụng thông tin đã

có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ sở dữ

liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác và không yêu cầu cá nhân,

tổ chức thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp nộp bản sao Giấy chứng

nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, Giấy

chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký thuế, Giấy

chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản của cơ quan đăng ký đầu tư chấp thuận

về việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước

ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, giấy phép thành lập và

hoạt động hoặc bản sao văn bản chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà

nước, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và các giấy tờ khác

trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp và Nghị

định này.

Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được

không đầy đủ, không chính xác thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh

yêu cầu cá nhân, tổ chức bổ sung bản sao các giấy tờ nêu trên theo quy

định tại Luật Doanh nghiệp và Nghị định này để giải quyết thủ tục đăng

ký doanh nghiệp. Cá nhân, tổ chức thực hiện cập nhật, điều chỉnh thông

tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Việc khai thác, sử dụng thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu để thay

thế thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trên cơ sở kết nối, chia sẻ

thông tin giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và các cơ

sở dữ liệu khác thực hiện theo thông báo trên Cổng thông tin quốc gia về

đăng ký doanh nghiệp.

8. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm

giữ 100% vốn điều lệ, bản sao hoặc bản chính nghị quyết hoặc quyết định

của chủ sở hữu công ty, văn bản cử người đại diện theo ủy quyền của chủ

sở hữu là tổ chức trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại

Luật Doanh nghiệp và Nghị định này được thay thế bằng văn bản của tổ

chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định pháp luật về quản lý và đầu tư

vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan.”.

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 12

“5. Người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký

doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung

thực và chính xác của việc ủy quyền. Người ủy quyền và người được ủy

quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp khi thực

hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi người đại

diện theo pháp luật, chủ sở hữu, thành viên của công ty trách nhiệm hữu

hạn, thông tin cổ đông sáng lập, cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài của

công ty cổ phần không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao

dịch chứng khoán, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh.

Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực

hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp. Trường

hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện

thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu

cầu doanh nghiệp báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Nghị định

này.

Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực

điện tử thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo bản sao thẻ căn

cước hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ chiếu nước ngoài

hoặc các giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực

của người ủy quyền.

Điều 3. Sửa đổi, bổ sung Điều 17

“Điều 17. Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp

Chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một

hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối

cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại

diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu

hưởng lợi của doanh nghiệp). Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá

nhân được xác định như sau:

1. Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở

hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết

trở lên của doanh nghiệp.

Chủ sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc

từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp

thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.

Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình theo quy định tại khoản

22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp

hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều

lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh

nghiệp, doanh nghiệp xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu

hưởng lợi của doanh nghiệp.

Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là chủ sở hữu hưởng

lợi của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền

biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.

2. Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều

này, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy

định tại khoản 1 Điều này không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh

nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương

thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông

qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi

nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa

số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc,

Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ

cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của

doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.

3. Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 1,2 Điều

này, doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có

quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường

hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.”.

Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 18

“Điều 18. Kê khai, thông báo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh

nghiệp

1. Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định

chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 17 Nghị

định này và kê khai, thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin

về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.

Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định chủ

sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp thông qua việc rà soát từng cấp trong

cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi xác định được cá nhân có

quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế. Trường hợp

trong cơ cấu sở hữu có thỏa thuận pháp lý theo quy định của pháp luật về

phòng, chống rửa tiền thì chủ sở hữu hưởng lợi của thỏa thuận pháp lý

được xác định theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.

2. Việc kê khai thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi được thực hiện theo

thứ tự sau:

a) Người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ

quan đăng ký kinh doanh thông tin của cá nhân đáp ứng tiêu chí về quyền

sở hữu quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định này;

b) Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều

17, hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định

tại khoản 1 Điều 17 không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp,

người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông báo với Cơ

quan đăng ký kinh doanh thông tin của một hoặc nhiều cá nhân đáp ứng

tiêu chí về quyền thực tế chi phối quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị

định này;

c) Trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1, 2

Điều 17 thì người thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp kê khai, thông

báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh thông tin của cá nhân được quy định

tại khoản 3 Điều 17 Nghị định này.”.

Điều 5. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 20

“2. Ở cấp xã:

a) Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn thì cơ

quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh là

phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ

đăng ký hộ kinh doanh theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương;

b) Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn

thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh

là Ủy ban nhân dân cấp xã;

c) Cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh

quy định tại điểm a và điểm b khoản này (sau đây gọi là Cơ quan đăng ký

kinh doanh cấp xã) có tài khoản và con dấu.”.

Điều 6. Bổ sung khoản 8a vào sau khoản 8 Điều 21

“8a. Cập nhật, lưu trữ thông tin về cổ đông của công ty cổ phần không

phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán trong

Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 06 năm kể

từ ngày công ty giải thể theo quy định tại Nghị định này.”.

Điều 7. Bổ sung khoản 6 vào sau khoản 5 Điều 24

“6. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp trước khi

thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo

quy định của pháp luật về đầu tư thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp không

bao gồm bản sao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư quy định tại khoản 5 Điều

20, điểm c khoản 4 Điều 21 và điểm c khoản 4 Điều 22 Luật Doanh nghiệp.

Trong trường hợp này, giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung

cam kết đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước

ngoài theo quy định của pháp luật.”.

Điều 8. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 38

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử bao gồm các

giấy tờ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ

sung năm 2025 và Nghị định này được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử

hoặc dữ liệu điện tử theo quy định pháp luật. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

qua mạng thông tin điện tử có giá trị pháp lý tương đương hồ sơ đăng ký

doanh nghiệp bằng bản giấy.”.

2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 như sau:

“a) Có đầy đủ các giấy tờ và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ

theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được thể hiện dưới dạng văn bản

điện tử hoặc dữ liệu điện tử có đầy đủ thông tin theo quy định như hồ sơ

đăng ký bằng bản giấy;”.

3. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 như sau:

“d) Trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ

đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử phải kèm theo các giấy

tờ, tài liệu quy định tại Điều 12 Nghị định này và được thể hiện dưới

dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử quy định tại điểm a khoản

này.”.

Điều 9. Sửa đổi, bổ sung Điều 39

“Điều 39. Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện

tử

1. Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng

định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống

thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Người nộp hồ sơ thực hiện

thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy trình trên Hệ thống thông tin quốc

gia về đăng ký doanh nghiệp như sau:

a) Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị

đăng ký doanh nghiệp

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia về

đăng ký doanh nghiệp. Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội

dung được kê khai trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh

nghiệp và chỉ yêu cầu người nộp hồ sơ ký thì người nộp hồ sơ không phải

thực hiện ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định và không phải tải lên Hệ

thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đối với các giấy tờ

khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải

bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được

thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống

thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ

thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp yêu cầu nhiều người ký

và giấy tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp

hồ sơ phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy

định, được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên

Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực

điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ,

người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả

điện tử;

b) Trường hợp người nộp hồ sơ là người được ủy quyền thực hiện thủ tục

đăng ký doanh nghiệp

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin và tải các giấy tờ trong thành phần hồ

sơ đăng ký theo quy định lên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký

doanh nghiệp. Các giấy tờ này phải được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy

định và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực

điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ,

người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả

điện tử.

2. Các thông tin đăng ký doanh nghiệp trên Hệ thống thông tin quốc gia

về đăng ký doanh nghiệp được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế

để phối hợp, trao đổi thông tin giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh

và Cơ quan thuế.

3. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và

trả kết quả giải quyết hồ sơ cho doanh nghiệp theo quy định tại Luật

Doanh nghiệp và Nghị định này. Người nộp hồ sơ đăng nhập vào Hệ thống

thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để nhận thông tin phản hồi về

kết quả xử lý hồ sơ.

4. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng

ký qua mạng thông tin điện tử có thể dừng thực hiện thủ tục đăng ký

doanh nghiệp theo quy định tại khoản 6 Điều 31 Nghị định này.”.

Điều 10. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 51

“c) Bản sao hoặc bản chính hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hoặc giấy tờ

chứng minh việc hoàn tất chuyển nhượng trong trường hợp chuyển nhượng cổ

phần; giấy tờ chứng minh việc góp vốn trong trường hợp cổ đông là nhà

đầu tư nước ngoài mua cổ phần chào bán riêng lẻ; hợp đồng tặng cho cổ

phần trong trường hợp tặng cho cổ phần;”.

Điều 11. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 60

1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Trường hợp doanh nghiệp, chi nhánh, địa điểm kinh doanh tạm ngừng

kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn đã thông báo, văn

phòng đại diện tạm ngừng hoạt động hoặc tiếp tục hoạt động trước thời

hạn đã thông báo, doanh nghiệp gửi hồ sơ thông báo đến Cơ quan đăng ký

kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa

điểm kinh doanh đặt trụ sở chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tạm

ngừng kinh doanh, tạm ngừng hoạt động hoặc tiếp tục kinh doanh, tiếp tục

hoạt động trước thời hạn đã thông báo. Trường hợp doanh nghiệp, chi

nhánh, địa điểm kinh doanh có nhu cầu tiếp tục tạm ngừng kinh doanh, văn

phòng đại diện có nhu cầu tiếp tục tạm ngừng hoạt động sau khi hết thời

hạn đã thông báo thì phải gửi hồ sơ thông báo tạm ngừng đến Cơ quan đăng

ký kinh doanh cấp tỉnh chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tiếp tục

tạm ngừng. Thời hạn tạm ngừng của mỗi lần thông báo không được quá 12

tháng. Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá 24

tháng.”.

2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 như sau:

“a) Thông báo tạm ngừng kinh doanh, tạm ngừng hoạt động, trong đó bao

gồm thông tin về số điện thoại và địa chỉ thư điện tử của người đại diện

theo pháp luật của doanh nghiệp;”.

3. Bổ sung khoản 7 và khoản 8 vào sau khoản 6 như sau:

“7. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, khi có thay đổi thông tin đăng

ký doanh nghiệp theo quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật Doanh nghiệp

năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị định này, doanh nghiệp

phải đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp

theo quy định.

8. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn tạm

ngừng kinh doanh đã thông báo, người đại diện theo pháp luật của doanh

nghiệp phải xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại và cam kết đã thực

hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp với Cơ quan đăng ký kinh doanh

cấp tỉnh theo quy trình trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký

doanh nghiệp.

Trường hợp không xác nhận trong thời hạn nêu trên, trong thời hạn 10

ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn yêu cầu xác nhận nêu trên, Cơ

quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh gửi văn bản yêu cầu doanh nghiệp báo

cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 216 Luật Doanh nghiệp đồng

thời gửi Cơ quan quản lý thuế để phối hợp quản lý nhà nước.

Trường hợp doanh nghiệp không gửi báo cáo đến Cơ quan đăng ký kinh doanh

cấp tỉnh trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo, Cơ quan

đăng ký kinh doanh cấp tỉnh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 69 Nghị định này. Doanh nghiệp

phải thực hiện thủ tục giải thể theo quy định tại Điều 65 Nghị định

này.”.

Điều 12. Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 61

“3. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, đình chỉ hoạt động, chấm dứt

kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi có thay

đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật

Doanh nghiệp năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị định này,

doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi nội dung đăng ký

doanh nghiệp theo quy định.”.

Điều 13. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 64

“3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán hết các khoản

nợ của doanh nghiệp, doanh nghiệp gửi hồ sơ đăng ký giải thể doanh

nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ

sở chính, hồ sơ đăng ký giải thể doanh nghiệp bao gồm các giấy tờ quy

định tại khoản 1 Điều 210 Luật Doanh nghiệp. Đối với công ty cổ phần

không phải là công ty niêm yết và công ty đăng ký giao dịch chứng khoán,

thông báo về việc giải thể doanh nghiệp trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

phải kèm theo bản sao sổ đăng ký cổ đông.”.

Điều 14. Sửa đổi, bổ sung Điều 72

“Điều 72. Quy trình chuyển tình trạng pháp lý, đình chỉ thủ tục phá sản,

hủy quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản

1. Việc chuyển tình trạng pháp lý sau khi có quyết định mở thủ tục phá

sản, quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản của Tòa án

a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định mở

thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển

tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang tình trạng đang làm thủ tục phá

sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh

doanh sang tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ

liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;

b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định,

trích lục quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản của Tòa án, Cơ quan

đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp

sang tình trạng đã phá sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng

đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng đã chấm dứt hoạt động

trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;

c) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định không

mở thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh lưu

giữ thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định đình

chỉ thủ tục phá sản của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh

chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, tình trạng pháp lý của chi

nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng pháp lý

trước thời điểm có quyết định mở thủ tục phá sản trong Cơ sở dữ liệu

quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải

quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị quyết định đình chỉ thủ tục phá sản

của Tòa án, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh lưu giữ thông tin tại Cơ

sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp Tòa án

giữ nguyên quyết định đình chỉ thủ tục phá sản hoặc chuyển tình trạng

pháp lý của doanh nghiệp sang tình trạng đang làm thủ tục phá sản, tình

trạng pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh

sang tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ liệu

quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp Tòa án hủy quyết

định đình chỉ thủ tục phá sản và giao cho Thẩm phán tiến hành giải quyết

thủ tục phá sản.

4. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hủy

quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản và giao hồ sơ cho Tòa án nhân

dân cấp dưới có thẩm quyền giải quyết lại của Tòa án, Cơ quan đăng ký

kinh doanh cấp tỉnh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp sang tình

trạng đang làm thủ tục phá sản, tình trạng pháp lý của chi nhánh, văn

phòng đại diện, địa điểm kinh doanh sang tình trạng đang làm thủ tục

chấm dứt hoạt động trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

5. Thông tin về việc doanh nghiệp đang làm thủ tục phá sản hoặc đã phá

sản và chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đang làm thủ

tục chấm dứt hoạt động hoặc đã chấm dứt hoạt động được truyền sang Hệ

thống ứng dụng đăng ký thuế để cập nhật.”.

Điều 15. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 93

“5. Người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hộ

kinh doanh chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực

và chính xác của việc ủy quyền. Người ủy quyền và người được ủy quyền

phải thực hiện xác thực điện tử để được cấp đăng ký hộ kinh doanh khi

thực hiện thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi chủ

hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh

doanh.

Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực

hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký hộ kinh doanh.

Trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền

thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh thì Cơ quan đăng ký kinh doanh

cấp xã yêu cầu hộ kinh doanh báo cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 22

Nghị định này.

Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực

điện tử thì hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh phải kèm theo bản sao thẻ Căn

cước hoặc thẻ Căn cước công dân còn hiệu lực của người ủy quyền.”.

Điều 16. Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 103

“5. Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, khi có thay đổi thông tin đăng

ký hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 100 Nghị định này, hộ kinh doanh

phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hộ kinh doanh theo quy định.”.

Điều 17. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 112

1. Sửa đổi khoản 1 như sau:

“1. Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin điện tử bao gồm các

giấy tờ theo quy định tại Nghị định này và được thể hiện dưới dạng văn

bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử. Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh qua mạng

thông tin điện tử có giá trị pháp lý tương đương hồ sơ đăng ký hộ kinh

doanh bằng bản giấy.”.

2. Sửa đổi điểm a khoản 2 như sau:

“a) Có đầy đủ các giấy tờ và nội dung các giấy tờ đó được kê khai đầy đủ

theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được thể hiện dưới dạng văn bản

điện tử hoặc dữ liệu điện tử có đầy đủ thông tin theo quy định như hồ sơ

đăng ký bằng bản giấy. Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với

tên loại giấy tờ trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh bằng bản giấy;”.

3. Sửa đổi điểm d khoản 2 như sau:

“d) Trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh, hồ sơ

đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin điện tử phải kèm theo các giấy

tờ, tài liệu quy định tại Điều 93 Nghị định này được thể hiện dưới dạng

văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử theo quy định.”.

4. Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 như sau:

“4. Trường hợp hồ sơ được tiếp nhận trên Hệ thống thông tin về đăng ký

hộ kinh doanh sau giờ hành chính hoặc vào ngày nghỉ, ngày lễ, Tết theo

quy định thì thời hạn trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh

doanh quy định tại Nghị định này được tính từ ngày làm việc kế tiếp của

ngày hồ sơ được tiếp nhận.”.

Điều 18. Sửa đổi, bổ sung Điều 113

“Điều 113. Trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh qua mạng thông tin

điện tử”

1. Người nộp hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng

định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống

thông tin về đăng ký hộ kinh doanh. Người nộp hồ sơ thực hiện thủ tục

đăng ký hộ kinh doanh theo quy trình trên Hệ thống thông tin về đăng ký

hộ kinh doanh như sau:

a) Trường hợp người nộp hồ sơ là người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị

đăng ký hộ kinh doanh

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ

kinh doanh. Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê

khai trên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh và chỉ yêu cầu

người nộp hồ sơ ký thì người nộp hồ sơ không phải thực hiện ký số và tải

lên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh. Đối với các giấy tờ

khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ phải

bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định, được

thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ thống

thông tin về đăng ký hộ kinh doanh.

Đối với các giấy đề nghị hoặc thông báo có nội dung được kê khai trên Hệ

thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh yêu cầu nhiều người ký và giấy

tờ khác trong thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định, người nộp hồ sơ

phải bảo đảm các giấy tờ này được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định,

được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và tải các giấy tờ này lên Hệ

thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực

điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ,

người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả

điện tử;

b) Trường hợp người nộp hồ sơ là người được ủy quyền thực hiện thủ tục

đăng ký hộ kinh doanh

Người nộp hồ sơ kê khai thông tin và tải các giấy tờ trong thành phần hồ

sơ đăng ký theo quy định lên Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh

doanh. Các giấy tờ này phải được ký số hoặc ký trực tiếp theo quy định

và được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử.

Người nộp hồ sơ thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và thực hiện xác thực

điện tử theo quy định để nộp hồ sơ. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ,

người nộp hồ sơ sẽ nhận được giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả

điện tử.

2. Các thông tin đăng ký hộ kinh doanh trên Hệ thống thông tin về đăng

ký hộ kinh doanh được truyền sang Hệ thống ứng dụng đăng ký thuế để phối

hợp, trao đổi thông tin giữa Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã và cơ

quan thuế.

3. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét tính hợp lệ của hồ sơ và

trả kết quả giải quyết hồ sơ cho hộ kinh doanh theo quy định tại Nghị

định này. Người nộp hồ sơ đăng nhập vào Hệ thống thông tin về đăng ký hộ

kinh doanh để nhận thông tin phản hồi về kết quả xử lý hồ sơ.

4. Hộ kinh doanh thực hiện thủ tục đăng ký qua mạng thông tin điện tử có

thể dừng thực hiện thủ tục đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại khoản

5 Điều 95 Nghị định này.”.

Điều 19. Thay thế, bãi bỏ một số cụm từ, khoản

1. Thay thế cụm từ “bản dịch tiếng Việt công chứng” bằng cụm từ “bản

dịch tiếng Việt được chứng thực chữ ký người dịch” tại khoản 2 Điều 10.

2. Thay thế cụm từ “các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này” bằng

cụm từ “các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 8a Điều này” tại khoản 9

Điều 21.

3. Thay thế cụm từ “03 ngày làm việc” bằng cụm từ “02 ngày làm việc” tại

khoản 6 Điều 31, khoản 5 Điều 56, khoản 4 Điều 66, các khoản 1, 2, 3 và

4 Điều 77, khoản 5 Điều 95, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 115.

4. Thay thế cụm từ “Hệ thống thông tin đăng ký thuế” bằng cụm từ “Hệ

thống ứng dụng đăng ký thuế” tại khoản 2 Điều 53.

5. Thay thế cụm từ “nơi đặt địa điểm kinh doanh” bằng cụm từ “theo quy

định pháp luật” tại khoản 2 Điều 87.

6. Bãi bỏ cụm từ “và danh sách người đại diện theo ủy quyền” tại khoản 3

Điều 54.

7. Bãi bỏ cụm từ “nơi đã nộp hồ sơ” tại khoản 5 Điều 95.

8. Bãi bỏ cụm từ “nơi hộ kinh doanh đăng ký trụ sở” tại khoản 1 Điều 99.

9. Bãi bỏ Điều 37, khoản 2 Điều 52, Điều 111, khoản 3 Điều 124.

Điều 20. Xử lý hồ sơ tiếp nhận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi

hành

1. Trường hợp hồ sơ đăng ký giải thể, thông báo tạm ngừng kinh doanh

được tiếp nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chấp

thuận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì việc giải quyết

thủ tục này thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, việc giải quyết thủ tục

đăng ký doanh nghiệp đối với hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đã được tiếp

nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chấp thuận trước

ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định tại

Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.

3. Việc giải quyết thủ tục đăng ký hộ kinh doanh đối với hồ sơ đăng ký

hộ kinh doanh đã được tiếp nhận và chưa được Cơ quan đăng ký kinh doanh

cấp xã chấp thuận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thực

hiện theo quy định tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP.

Điều 21. Điều khoản chuyển tiếp

1. Quy định về tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không quá

24 tháng quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định này được áp dụng đối với

doanh nghiệp đã thông báo tạm ngừng kinh doanh trước ngày Nghị định này

có hiệu lực thi hành như sau:

a) Trường hợp tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp đến thời

điểm kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất chưa

vượt quá 24 tháng thì doanh nghiệp được tiếp tục đăng ký tạm ngừng kinh

doanh nhưng phải bảo đảm tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp,

bao gồm cả thời gian đã đăng ký trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi

hành, không được vượt quá 24 tháng;

b) Trường hợp tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp đến thời

điểm kết thúc thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất đã

vượt quá 24 tháng thì doanh nghiệp không được tiếp tục đăng ký tạm ngừng

kinh doanh sau khi thời hạn tạm ngừng kinh doanh đã thông báo gần nhất

kết thúc.

2. Quy định về xác nhận tiếp tục kinh doanh trở lại khi kết thúc thời

hạn tạm ngừng kinh doanh quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này được

áp dụng đối với doanh nghiệp thông báo tạm ngừng kinh doanh kể từ ngày

Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Điều 22. Điều khoản thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 23 tháng 7 năm 2026.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã,

phường, đặc khu và các đối tượng áp dụng của Nghị định chịu trách nhiệm

thi hành Nghị định này.

----------------------------------- -----------------------------------

Nơi nhận: TM. CHÍNH PHỦ

- Ban Bí thư Trung ương Đảng; KT. THỦ TƯỚNG

- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng PHÓ THỦ TƯỚNG

Chính phủ; Nguyễn Văn Thắng

- Các bộ, cơ quan ngang bộ;

- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương;

- Văn phòng Trung ương và các Ban

của Đảng;

- Văn phòng Tổng Bí thư;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban

của Quốc hội;

- Văn phòng Quốc hội;

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Kiểm toán nhà nước;

- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam;

- Cơ quan trung ương của các tổ

chức chính trị - xã hội;

- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg,

các Vụ, Cục, Công báo;

- Lưu: VT, KTTH (2).

----------------------------------- -----------------------------------

Liên hệ Công ty Luật Minh Bạch: 0987 892 333 – info@luatminhbach.vn.