| TÒA ÁN NHÂN DÂN TÓI CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Số: 90/2026/AL | |
Án lệ số 90/2026/AL về thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN TÓI CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do — Hạnh phúc
ÁN LỆ SÓ 90/2026/AL`
Về thắm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Tòa án
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 2l
tháng 5 năm 2026 và được công bô theo Quyêt định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng
5 năm 2026 của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao.
Nguồn án lệ:
___ Quyết định giám đốc thâm số 10/2024/HC-GĐT ngày 16/4/2024 của Hội
đông Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao vê vụ án hành chính “Khiếu kiện quyết ⁄ZZ
định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai ” giữa người khởi kiện là ông Trân /%~
Ế di ng , : //⁄Z
Ngọc T với người bị kiện là Uy ban nhân dân huyện G, tỉnh Q, Văn phòng đăn J2
ký đât đai tỉnh Q; người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan gôm 7 người. | -lẾu ,
Vị trí nội dung án lệ: QG
Đoạn 5 phần “Nhận định của Tòa án”. NGớy
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huồng án lệ:
Do sai sót về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy
ban nhân dân có thâm quyền đã câp giây chứng nhận quyền sử dụng đât cho người
sử dụng đât chông lên phân diện tích đật của người sử dụng đât liên kê đã được
cập giây chứng nhận quyền sử dụng đât trước đó. Người được cập giây chứng
nhận quyên sử dụng đât không đúng đã chuyên nhượng cho người thứ ba và người
thứ ba đã được câp đôi giây chứng nhận quyên sử dụng đât. Người sử dụng đât
liên kê khởi kiện vụ án hành chính yêu câu Tòa án tuyên hủy giây chứng nhận
quyên sử dụng đât đã câp cho người thứ ba.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Toà án phải xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là quyết định hành chính và có thâm quyên xem xét tính hợp pháp của giây chứng
nhận quyền sử dụng đât đã câp cho người thứ ba, tuyên hủy một phân hoặc toàn
bộ giây chứng nhận quyên sử dụng đât này.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015
(sửa đôi, bô sung năm 2019, 2024 và 2025);
} Án lệ này do Vụ Giám đốc, kiểm tra IV Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị
đề xuât.
2 .
- Điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 (tương ứng với điểm d
khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024);
- Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định
chỉ tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
Từ khóa của án lệ:
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”; “Quyết định hành chính”; “Hủy một
phần hoặc toàn bộ giấy chứng nhận quyên sử dụng đất”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 06/7/1999, ông Trần Ngọc T được UBND huyện G cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 0888590, diện tích 609m”, loại đất màu,
thửa đất số 106/1, tờ bản đồ số 38, tại thị trấn G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Cùng
ngày, ông Nguyễn Văn TI (tên gọi khác là Nguyễn Văn T2) cũng được cấp
GCNQSDĐ số 0888599, tổng diện tích 947m? đất, trong đó có 50m? đất tại thửa
đất số 106/2, tờ bản đồ số 3§, thị trần G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị.
Tại Số mục kê được Sở địa chính huyện G lập ngày 06/12/2001 thể hiện
thửa đất số 106 đồng sử dụng (thửa đất số 106/1 người đứng tên chủ sử dụng là
ông Trần Ngọc T và thửa đất số 106/2 là ông Nguyễn Văn T3 (có dòng chữ ghi
thêm là sai tên, tên thật Nguyễn Văn T2). Ông Trần Văn D cũng có tên trong Số
mục kê này và đứng tên chủ sử dụng tại thửa đất số 119 diện tích 300m? đất loại
đất ao. Theo trích lục từ tờ bản đồ địa chính số 38 năm 2001 thì thửa đất của ông
Trần Ngọc T có vị trí: phía Nam giáp thửa đất số 119 của ông Trần Văn D.
Ngày 10/7/2009, ông Trần Văn D (là con rề của ông Trần Ngọc T) có Đơn
xin cấp GCNQSDĐ đối với các thửa đất số 106, 119 (thửa cuối 222, 223), tờ bản
đồ số 38, diện tích 542m”; nguồn gốc đất ghi: “đất do cha ông để lại”. Ngày
26/11/2009, UBND huyện G ban hành Quyết định số 2671/QĐ-UBND về việc
cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4, diện tích 542m” tại
thị trấn GI, huyện G, tỉnh Quảng Trị để sử dụng vào mục đích 153m7 đất trồng
cây hàng năm và 389m” đất nuôi trồng thủy sản. Cùng ngày, UBND huyện G cấp
GCNQSDĐ số AK 842771 cho hộ gia đình ông D, bà T4 diện tích đất 542m? tại
thửa đất số 222, 223, tờ bản đồ số 38, tại thị trân G1, huyện G.
Ngày 29/3/2017, vợ chồng ông D, bà T4 đã lập Hợp đồng chuyên nhượng
quyền sử dụng 542m? đất theo GCNQSDĐ số AK 842771 cho vợ chồng ông Trần
Văn T5, bà Trần Thị T6; Hợp đồng được chứng thực tại UBND thị trấn G1 ngày
31/3/2017. Ngày 04/4/2017, Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G đã
chỉnh lý trên GCNQSDĐ của ông D, bà T4 thể hiện việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6.
Ngày 15/4/2021, ông Trần Ngọc T có Đơn khởi kiện và ngày 22/6/2021,
Ông Nguyễn Văn T2 có Đơn yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Trị hủy toàn bộ các quyết định hành chính: Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày
26/11/2009 của UBND huyện G về việc cấp GCNQSDĐ cho ông Trần Văn D và
bà Trần Thị T4; GCNQSDĐ số AK 842771 do UBND huyện G cấp ngày
26/11/2009 cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4, thửa đất số 222, 223, tờ
bản đồ số 38, tại thị trần G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị, diện tích 542m?; phần quyết
định của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G được ghi tại phần IV-
GCNQSDĐ nêu trên, với lý do: UBND huyện G khi cấp GCNQSDĐ theo đơn
của ông D và sau này Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G thực hiện
thủ tục gia hạn thời hạn sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã
không kiểm tra, xác minh nên đã cấp chồng lên diện tích đất của gia đình các ông
đang sử dụng và đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ.
Tại Văn bản số 696/UBND-NC ngày 26/5/2021, Biên bản làm việc ngày
21/7/2021, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp
của người bị kiện là UBND huyện G trình bày:
Tại trang 239 Số mục kê đất năm 2001 của thị trấn G1 thì thửa đất số 106,
tờ bản đồ số 38, diện tích 659m? do các đồng sử dụng đất kê khai, trong đó ông
Trần Ngọc T kê khai sử dụng thửa đất số 106/1, diện tích 609m”, ông Nguyễn Văn
T1 (T2) kê khai sử dụng thửa đất số 106/2, diện tích 50m”. Đến năm 2009, quá >3
trình câp GCNQSDĐ cho ông Trân Văn D và bà Trân Thị T4 thì mới hợp thức kê _N
khai thêm cho ông D 153m2 (thửa đất số 222) và 389m? (thửa đất số 223) chỉnh Ï
lý từ thửa đất số 106, 119. Nội
Theo hồ sơ địa chính năm 2001 thì thửa cuối cùng là thửa đất số 224. Quá kc
trình làm hô sơ kê khai sử dụng đât cho ông D, đáng lẽ phải lây sô thửa đâttêp x_„
theo là 225, 226 nhưng cán bộ làm hồ sơ đánh nhâm thành thửa đât sô 222, 223. xi
Về bản chất, các thửa đất số 222, 223 kê khai cho ông D được đo đạc chỉnh lý từ
thửa đất số 106, 119; vị trí các thửa đất và quyền sử dụng đất không thay đối.
Việc cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà T4 thửa đất số 222, 223 có chồng lên
một phần đất của thửa đất số 106 do tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho ông D, Hội
đồng cấp đất không xác định được thửa đất số 106 đã được cấp GCNQSDĐ nên
mới tiến hành quy trình cấp đất lần đầu cho ông D, bà T4. Do đó, việc cấp
GCNQSDĐ cho ông D, bà T4 là không đúng quy định.
Năm 2017, ông D, bà T4 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T15, bà
T6. Căn cứ Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 thì UBND huyện không thể thu hồi
GCNQSDĐ đã cấp sai nhưng đã được chuyền nhượng.
Vì vậy, UBND huyện G đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định
của pháp luật.
Tại Văn bản số 341/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 27/5/2021, các lời khai trong
quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người bị kiện Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Q trình bày:
Hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4 đã được UBND huyện G cấp
GCNQSDĐ số AK 842771 với diện tích 542m), thuộc thửa đất số 222, 223, tờ
bản đồ số 38, tại khu phố 7, thị trần G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị, theo Quyết định
số 2671/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của UBND huyện Ơ.
Ngày 27/02/2017, ngày 22/02/2017, ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4 nộp
4 :
hồ sơ tại bộ phận một cửa của UBND huyện G đề thực hiện đăng ký biến động
xác nhận tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp. Hồ sơ gồm có: Đơn đăng ký biến động,
GCNQSDĐ số AK 842771. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện G đã thâm định và chỉnh lý ngày 27/02/2017 trên trang IV
GCNQSDĐ, có nội dung: “Tiếp tục sử dụng đất đến tháng 11/2066”.
Ngày 31/3/2017, ông Trần Văn T5 nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa của UBND
huyện G đề thực hiện chuyền nhượng quyền sử dụng đất. Hồ sơ gồm có: Hợp đồng
chuyền nhượng quyên sử dụng đất đã được UBND thị trấn G1 chứng nhận (chứng
thực) ngày 31/3/2017, GCNQSDĐ số AK 842771 cấp ngày 26/11/2009. Sau khi
tiếp nhận hồ sơ, Chỉ nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G đã thẩm định và
chỉnh lý ngày 04/4/2017 trên trang IV GCNQSDĐ, nội dung: “Chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T5, CMND số 197077756 và bà Trần Thị T6,
CMND số 197204014, địa chỉ tại Khu phó 7, thị trấn G1, huyện G”.
Tại các thời điểm thâm định và chỉnh lý GCNQSDĐ của Chỉ nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện G, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q nhận thấy: hồ sơ đủ điều
kiện, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 1§§ Luật Đất đai năm 2013;
Điều 75 và Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
khoản 2 và khoản 10, Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường. Do đó, việc chỉnh lý trên giấy CNQSDĐ đối với các
nội dung ngày 27/02/2017 và ngày 04/4/2017 của Chỉ nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai huyện G là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các hỗ sơ, tài
liệu có liên quan đề giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Tại Văn bản số 177/UBND ngày 30/8/2021, UBND thị trấn GI trình bày:
đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị căn cứ quy định của pháp luật để giải
quyết vụ án theo đúng trình tự, thâm quyền.
Tại Văn bản trình bày ngày 24/5/2021, bà Trần Thị T4 và ông Trần Văn T7:
vợ chồng ông D, bà T4 có một ao cá giáp với đất của ông Trần Ngọc T và ông
Nguyễn Văn T2. Đất của ông T có mặt tiền giáp đường khu vực. Quá trình xin
cấp GCNQSDĐ thì ông Trần Văn D là người trực tiếp làm các thủ tục, giấy tờ nên
bà T4 không biết hiện trạng cấp GCNQSDĐ như thể nào. Sau này, vợ chồng ông
D, bà T4 chuyển nhượng thửa đất cho ông Trần Văn T5 (em trai ông D) và bà
Trần Thị T6. Bà T4 chỉ ký tên, còn nội dung cụ thể thì bà T4 không biết. Đề nghị
Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 27/7/2021, bà Hoàng Thị L và
ông Trần Văn H trình bày: nguồn gốc đất mà ông D, bà T4 được cấp GCNQSDĐ
trước đây là ao cá của ông H cho con trai là Trần Văn D. Sau này, vợ chồng ông
D, bà T4 được cấp GCNQOSDĐ và chuyên nhượng lại cho vợ chồng Trần Văn T5,
Trần Thị T6. Khu vực này nguyên gốc là ao cá của ông H, đến đất của ông TI
(T2) (con đường), rồi đến đất của ông Trần Ngọc T. Do đã cho con trai Trần Văn
D nên hiện nay vợ chồng ông H, bà L không có quyền lợi gì đối với diện tích đất
mà UBND huyện G cấp cho ông D, bà T4 (sau này chuyên nhượng lại cho ông
T5, bà T6).
_ Phần đất của ông T đã bị Nhà nước thu hồi, nếu Nhà nước sử dụng không
hệt thì phân diện tích còn lại do Nhà nước quản lý, ông T không có quyên khởi
kiện đôi với diện tích đó.
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 27/7/2021, ông Trần Văn T5
và bà Trân Thị Tó trình bày: vợ chỗng ông, bà nhận chuyên nhượng quyên sử
dụng đât từ ông Trân Văn D, bà Trân Thị T4 thửa đất sô 222, 223, tờ bản đô sô 38
tại thị trân G1. Tại thời điêm nhận chuyên nhượng thì ông D, bà T4 đã được
UBND huyện G câp GCNQDSDĐ. Hợp đông chuyên nhượng được công chứng
hợp pháp. Diện tích đât nhận chuyên nhượng gôm đât của ông D và một phân đât
của ông Trân Ngọc T (bô vợ ông D) đã cho ông D, bà T4. Thực tê phải có việc
ông T cho ông D, bà T4 đât thì ông D, bà T4 mới được UBND huyện G câp
GCNQSDĐ. Việc cập GCNQSDĐ đúng hay sai là trách nhiệm của UBND huyện
G. Đê nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 20/4/2021, ông Trần Ngọc C, bà Trần
Thị T§, bà Trân Thị Ai T9, ông Trân Ngọc T10 trình bày: thông nhât với ý kiên
của người khởi kiện ông Trần Ngọc T.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 02/8/2021, anh Nguyễn Thành LI trình
bày: thông nhât với ý kiên của ông Nguyên Văn T2 và bà Trân Thị L2.
Chị Nguyễn Thị Kim L3, chị Nguyễn Thị Nhật L4 không có ý kiến gì.
Tại Bản án hành chính sơ thâm số 09/2021/HC-ST ngày 08/9/2021, Tòa án ¡
nhân dân tỉnh Quảng Trị quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc 1 và yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyên Văn T2, bà Trân
Thị L2.
.... - Hủy một phần các quyết định hành chính đối với thửa đất số 222, tờ bản
đồ số 38, diện tích 153m” đât tại thị trân G1, cụ thê như sau:
+ Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của UBND huyện G về
việc cập giây CNQSDĐ cho hộ ông Trân Văn D và bà Trân Thị T4.
+ Giấy CNQSDD đất số AK 842771 do UBND huyện G cấp ngày
26/11/2009 cho hộ ông Trân Văn D và bà Trân Thị 14. UBND huyện G có trách
nhiệm cập lại giây CNQSDĐ cho hộ ông Trân Ngọc T và hộ ông Nguyên Văn T2,
bà Trân Thị L2 đôi với diện tích 153mŸ đất, tại thửa sô 222 (được chỉnh lý từ thửa
số 106), tờ bản đô sô 38 của thị trân G1 theo đúng quy định của pháp luật.
_- Phần chỉnh lý của Văn phòng đăng ký đất đai Chỉ nhánh huyện G tại trang
IV-giây CNQSDĐ số AK 842771 do UBND huyện G cập ngày 26/11/2009 cho
hộ ông Trần Văn D và bà Trân Thị T4 là không có giá trị pháp lý, với nội dung:
+ Tiếp tục sử dụng đất đến tháng 11/2066.
+ Chuyên nhượng quyền sử dụng. đất cho ông Trần Văn T5, CMND số
197077756 và bà Trân Thị T6, CMND sô 197204014; địa chỉ tại Khu phô 7, thị
trân G1, huyện G.
__ Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G có trách nhiệm chỉnh lý
Giây chứng nhận quyền sử dụng đât sô AK 842771 do UBND huyện Œ câp ngày
26/11/2009 cho hộ ông Trân Văn D và bà Trân Thị T4 theo đúng quy định.
Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 23/9/2021 và ngày 01/10/2021, ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6 có
đơn kháng cáo một phân bản án hành chính sơ thâm.
Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022, Tòa
án nhân dân câp cao tại Đà Năng quyêt định:
Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Trần Văn T5 và bà Trần Thị T6.
Sửa quyết định của Bản án hành chính sơ thâm số 09/2021/HC-ST ngày
08/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng TTỊ:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc T và yêu cầu độc
lập của người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyên Văn T2, bà Trân Thị
L2; vê các yêu câu.
__- Hủy một phần các quyết định hành chính đối với thửa đất số 222, tờ bản
đồ sô 38, diện tích 153m2 đất tại thị trấn G1, cụ thể như sau:
+ Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày 26/1 1/2009 của UBND huyện G về
việc câp giây CNQSDĐ cho hộ ông Trân Văn D và bà Trân Thị T4:
+ Giấy CNQSDĐ số AK 842771 do UBND huyện G cấp ngày 26/11/2009
cho hộ ông Trân Văn D và bà Trân Thị 14.
Tòa án cấp phúc thâm còn quyết định về án phí.
Ngày 24/5/2022, ông Trần Ngọc T có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục
giám đôc thâm đôi với bản án hành chính phúc thâm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thâm số 67/2023/KN-HC ngày
18/9/2023, Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao kháng nghị đôi với Bản án hành chính
phúc thâm sô 19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022 của Tòa án nhân dân câp cao tại
Đà Nẵng; đề nghị Hội đông Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao xét xử giám đôc
thâm, hủy Bản án hành chính phúc thâm sô 19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022 của
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: giữ nguyên Bản án hành chính sơ thâm số
09/2021/HC-ST ngày 08/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Tại phiên tòa giám đốc thâm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề
nghị Hội đông Thâm phán Tòa án nhân dân tôi cao châp nhận kháng nghị của
Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 15/4/2021, ông Trần Ngọc T có đơn khởi kiện và ngày 22/6/2021,
ông Nguyên Văn 12 có đơn yêu câu độc lập yêu câu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Trị hủy toàn bộ các quyết định hành chính: Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày
26/1 1/2009 của UBND huyện Œ về việc câp GCNQSDPĐ cho ông Trân Văn D và
bà Trân Thị T4; GCNQSDĐ sô AK 842771 do UBND huyện G cập ngày
26/11/2009 cho hộ ông Trần Văn D và bà Trần Thị T4, thửa đất số 222, 223, tờ
bản đồ số 38, tại thị trấn G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị, diện tích 542m); phần quyết
định của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G được ghi tại phần IV-
GCNQSDĐ số AK 842771 do UBND huyện G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ ông
Trần Văn D và bà Trần Thị T4 là không có giá trị pháp lý (trong đó có nội dung:
tiếp tục sử dụng đất đến tháng 11/2066; chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
ông Trần Văn T5 và bà Trần Thị T6), với lý do: UBND huyện G khi cấp
GCNQSDĐ theo đơn của ông D và sau này Văn phòng đăng ký đất đai Chỉ nhánh
huyện G thực hiện thủ tục gia hạn thời hạn sử dụng đất và chuyên nhượng quyền
sử dụng đất đã không kiểm tra, xác minh nên đã cấp chồng lên diện tích đất của
gia đình các ông đang sử dụng và đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ.
[2] Tại Biên bản làm việc ngày 21/7/2021, ông Phan Văn HI là đại diện
hợp pháp của người bị kiện trình bày: tại trang 239 Số mục kê đất năm 2001 của
thị trấn G1 thì thửa đất số 106, tờ bản đồ số 38, diện tích 569m” do các đồng sử
dụng đất kê khai, trong đó ông T kê khai sử dụng thửa đất số 106/1, diện tích
609m2; ông T1 (T2) kê khai sử dụng thửa đất số số 106/2, diện tích 50m”; đến
năm 2009 quá trình cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà T4 thì hợp thức kê khai thêm
cho ông-D 153m? thửa đất số (222) và 389m” (thửa đất số 223) chỉnh lý từ thửa
đất số 106 và thửa đất só 119; theo hồ sơ địa chính năm 2001 thì thửa cuỗi là thửa
đất số 224, quá trình làm hồ sơ kê khai sử dụng, cấp đất cho ông D đáng lẽ phải
lấy số tiếp theo là thửa đất số 225, 226 nhưng cán bộ làm hồ sơ đánh nhằm thửa
đất số 222, 223; bản chất các thửa đất này được đo đạc chỉnh lý từ thửa đất số
106, 119. Vị trí thửa đất, quyền sử dụng đất không thay đổi; người bị kiện cũng
thừa nhận việc cắp GCNQSDĐ cho ông D, bà T4 có chồng lên một phần thửa đất
số 106 do tại thời điểm cấp GCNQSDĐ cho ông D, Hội đồng cấp đất không xác
định được thửa đất số 106 đã được cấp GCNQSDĐ nên mới tiến hành quy trình
cấp lần đầu... Như vậy, có cơ sở xác định trình tự thủ tục xét duyệt cấp GCNQSDĐ
cho hộ gia đình ông D, bà T4 là không đúng quy định của pháp luật, dẫn đến sai sót.
Mặt khác, theo Đơn xin cấp GCNQSDĐ của ông D ngày 10/7/2009 có ghi nguồn
gốc đất cấp là do cha ông để lại nhưng ông D không cung cấp được tài liệu, chứng
cứ về việc ông được cho thửa đất số 106 (sau là thửa đất số 222), tờ bản đỗ số 38.
[3] Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 27/7/2021, ông Trần Văn
T5 và bà Trần Thị T6 trình bày: vợ chồng ông nhận chuyền nhượng quyền sử dụng
đất từ ông D, bà T4 thửa đất số 222, 223, tờ bản đồ số 38; thời điểm chuyển
nhượng điện tích đất này đã được UBND huyện G cấp GCNQSDĐ cho ông D, bà
T4, diện tích đất này gồm một phần đất của ông T (bỗ vợ ông D) và một phần đất
của ông D, bà T4. Ông nhận chuyên nhượng GCNQSDĐ từ ông D, bà T4 trên cơ
sở có hợp đồng đã được công chứng hợp pháp; việc cấp GCNQSDĐ đúng hay sai
là do UBND huyện G.
[4] Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thâm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của ông T, chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông T2, hủy một phần
Quyết định số 2671/QĐ-UBND ngày 26/11/2009 của UBND huyện G về việc cấp
GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông D, bà T4; hủy một phần GCNQOSDĐ do UBND
huyện G cấp ngày 26/11/2009 cho hộ gia đình ông D, bà T4; buộc UBND huyện
§ .
G cấp lại GCNQSDĐ cho các hộ gia đình ông T, ông T2 đối với diện tích 153m?
đất tại thửa đất số 222 (được chỉnh lý từ thửa đất số 106) theo đúng quy định pháp
luật; xác định phần chỉnh lý của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện G trên
GCNQSDD của hộ gia đình ông D, bà T4 là không có giá trị pháp lý; Văn phòng
đăng ký đất đai có trách nhiệm chỉnh lý lại GCNQSDĐ của gia đình ông D là có căn
cứ vì: Việc cấp chồng diện tích đất trên GCNQSDĐ được chính người bị kiện thừa
nhận; ông D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyền sử dụng
đất được cấp tại thửa đất số 106, tờ bản đồ số 3§ tại thị trần G1, huyện G.
[5] Tòa án cấp phúc thâm cũng xác định việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia
đình ông D, bà T4 là bị chồng lên phần đất của gia đình ông T, ông T2. Tuy nhiên,
Tòa án cấp phúc thẩm lại không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc
T và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn
Văn T2, bà Trần Thị L2 với lý do: căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 106 Luật Đất
đai năm 2013, khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì Nhà nước
không thu hồi GCNQSDĐ trong trường hợp GCNQSDĐ đã cấp không đúng
nhưng người được cấp giấy chứng nhận đã thực hiện chuyền quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật đất đất đai... nhận định của Tòa án cấp phúc thấm là
không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ, GCNQSDĐ là quyết định hành chính
theo quy định tại khoản I Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Hội đồng xét xử trong,
phạm vi thầm quyền của mình xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính
và có quyền quyết định tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính
trái pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng
hành chính. Mặt khác, quyết định của Tòa án cấp phúc thâm sẽ dẫn đến việc tồn
tại một lúc 03 GCNQSDĐ với cùng một diện tích I153m?(GCNQSDĐ năm 1999
của hộ gia đình ông Trần Ngọc T1, GCNQSDD năm 1999 của hộ gia đình ông
Nguyễn Văn T1 (T2) và GCNQSDĐ năm 2017 của hộ gia đình ông Trần Văn D,
bà Trần Thị T4, sau này chỉnh lý sang cho ông Trần Văn T5, bà Trần Thị T6) là
không đúng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 266, khoản 2 Điều 272, Điều 273 và khoản
2 Điều 274 Luật Tố tụng hành chính.
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thâm số 67/2023/KN-HC
ngày 18/9/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính
phúc thâm số 19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Đà Nẵng.
2. Hủy Bản án hành chính phúc thâm số 19/2022/HC-PT ngày 21/02/2022
của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
3. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thâm số 09/2021/HC-ST ngày
08/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“F5} Tòa án cắp phúc thẩm cũng xác định việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia
đình ông D, bà T4 là bị chồng lên phân đất của gia đình ông T ông T2. Tuy nhiên,
Tòa án cắp phúc thấm lại không chấp nhận yêu câu khỏi kiện của ông Trần Ngọc
T và yêu cẩu độc lập của người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn
Văn T2, bà Trân Thị L2 với lý do: căn cứ vào điềm d khoản 2 Điều 106 Luật Đắt
đai năm 2013, khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/52014 của
Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành một số điễu của Luật Đất đai thì Nhà nước
không thu hôi GCNOSDĐ trong trường hợp GCNOSDĐ đã cấp không đúng
nhưng người được cấp giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển quyên sử dụng đất
theo quy định của pháp luật đất đất đai... nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm là
không đúng quy định của pháp luật. Bởi lẽ. GCNQSDDĐ là quyết định hành chính
theo quy định tại khoản 1 Điêu 3 Luật TỔ tụng hành chính. Hội đông xét xử trong
phạm vi thẩm quyên của mình xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính
và có quyền quyết định tuyên hủy một phân hoặc toàn bộ quyết định hành chính
trái pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 193, khoản 1 Diễu 241 Luật TỔ tụng
hành chính. Mặt khác, quyết định của Tòa án cấp phúc thấm sẽ dẫn đến việc tôn
tại một lúc 03 ŒCNQSDD với cùng một diện tích 153m” (GCNQSDĐ năm 1999
của hộ gia đình ông Trần Ngọc T, GCNQSDĐ năm 1999 của hộ gia đình ông
Nguyễn Văn TỊ (T2) và CCNOSDĐ năm 2017 của hộ gia đình ông Trân Văn D, \
bà Trần Thị T4, sau này chỉnh lý sang cho ông Trần Văn 15, bà Trân Thị T6) là ị
không đúng. T7