Án lệ số 89/2026/AL về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với tài sản là nhà mua thanh lý để ở trên đất của cơ quan nhà nước - Toàn văn | Công ty Luật Minh Bạch

Án lệ số 89/2026/AL về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với tài sản là nhà mua thanh lý để ở trên đất của cơ quan nhà nước

Cập nhật quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam

Cập nhật: 10/08/2026 · Công ty Luật Minh Bạch

Lĩnh vực: Án lệ · Tài liệu tham khảo nội bộ, toàn văn được lưu giữ dưới dạng văn bản gốc.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TÓI CAOCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 89/2026/AL

Án lệ số 89/2026/AL về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với tài sản là nhà mua thanh lý để ở trên đất của cơ quan nhà nước

TÒA ÁN NHÂN DÂN TÓI CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập — Tự do - Hạnh phúc

ÁN LỆ SÓ 89/2026/AL”

Về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với tài sản là nhà

mua thanh lý để ở trên đất của cơ quan nhà nước

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 2l

tháng 5 năm 2026 và được công bồ theo Quyết định số 162/QĐ-CA ngày 29 tháng

5 năm 2026 của Chánh án Tòa án nhán dân tôi cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 09/2023/HC-GĐT ngày 13/4/2023 về vụ án

hành chính “Khiêu kiện quyêt định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực

quản lý đât đai và yêu câu bôi thường thiệt hại” của Hội đông Thâm phán Tòa án

nhân dân tôi cao giữa người khởi kiện là ông Nguyên Dực H với người bị kiện là

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P, Uy ban nhân dân huyện TI, tỉnh P; người có

quyên lợi, nghĩa vụ liên quan gôm 02 người.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn Š phần “Nhận định của Toà án”.

Khái quát nội dung của án lệ:

Cơ quan nhà nước bán thanh lý tài sản là nhà xây dựng trên phần đất trụ sở

của cơ quan, không có thỏa thuận về chuyên nhượng quyên sử dụng đât, trước khi

cơ quan có thâm quyên ban hành quyết định thu hôi phân đât này. Bên mua đã sử

dụng nhà vào mục đích đề ở. Quá trình sử dụng, bên mua đã tạo. lập, tôn tạo tài sản

mới trên đât. Sau đó, cơ quan nhà nước có thâm quyên đã thu hôi phân đât này.

Trường hợp này, Tòa án phải xác định khi nhà nước thu hồi đất, bên mua

tài sản trên đât không đủ điêu kiện được bôi thường về đât nhưng được xem xét

bôi thường, hỗ trợ đôi với tài sản trên đât bị thu hôi.

Quy định của pháp luật có liên quan đến án lệ:

Khoản 3 Điều 43 Luật Đất đai năm 2003 (tương ứng với khoản l Điều

§9 Luật Đất đai năm 2013, khoản 1 Điêu 102 Luật Đât đai năm 2024).

Từ khoá của án lệ:

“Mua thanh lý nhà đề ở”; “Thu hồi đất”; “Bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản

trên đât bị thu hôi”.

: .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Năm 1991, vợ ông Nguyễn Dực H là bà Nguyễn Thị C chuyền công tác

đến Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phú (cũ). Khi về nhận công tác, bà C

được cơ quan phân cho một gian nhà làm việc và một gian nhà để ở. Sau đó, ông

H đã xin cơ quan và được đồng ý cho ông làm thêm một quán bán hàng và một

số công trình phụ khác.

Năm 1996, Tòa án nhân dân huyện T chuyền đến trụ sở mới nên ông H

làm đơn xin mua nhà thanh lý và được Tòa án nhân dân huyện T đồng ý bán

cho ông H 03 gian nhà với số tiền là 4.000.000 đồng (Quyết định số 03/QĐÐ-

TA ngày 20/4/1998 của Tòa án nhân dân huyện T).

Ngày 26/3/2008, Ủy ban nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số

344/QĐ-UBND về việc thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đối với 1.430m2

đất trụ sở cơ quan do Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý để phục vụ việc giao

đất ở cho hộ gia đình, cá nhân năm 2008 tại thị trấn H, huyện TI trong đó

chuyền đổi 1.384m2 đất thành loại đất ở và 46m? đất thành đất thủy lợi. Diện

tích đất bị thu hồi nêu trên tiếp tục giao lại cho Ủy ban nhân dân thị trần H

quản lý đề lập hồ sơ giao đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân, trình Ủy ban nhân

dân huyện T1 xem xét phê duyệt. Ngày 04/4/2008, ông H tiếp tục làm đơn đề

nghị hợp thức đất.

Ngày 02/3/2009, Ủy ban nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số

205/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích 1.384m? đất ở do Ủy ban nhân dân thị

trấn H quản lý đề giao cho Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất huyện tổ chức

đấu giá quyền sử dụng đất ở (sau đây viết tắt là Quyết định số 205/QĐ-UBND).

Ông H không nhất trí và đã có khiếu nại.

Ủy ban nhân dân huyện T1 và Ủy ban nhân dân tỉnh P đã lần lượt trả lời bác

khiếu nại của ông H tại các Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 và

Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011. Ngày 04/7/2011, Ủy ban nhân dân

huyện T1 ban hành Quyết định số 787/QĐ-UBND về việc cưỡng chế giải phóng mặt

bằng đối với tài sản của hộ gia đình ông H (viết tắt là Quyết định số 787/QĐ-UBND).

Ông H cho rằng các Quyết định số 205/QĐ-UBND, Quyết định số

1825/QĐ-UBND, Quyết định số 1445/QĐ-UBND, Quyết định số 787/QĐ-

UBND nêu trên là trái pháp luật, xâm phạm đến quyên và lợi ích hợp pháp của

gia đình ông vì ông đủ điều kiện được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất theo quy định tại điểm đ khoản 1, khoản 6 Điều 50 Luật Đất đai

năm 2003; Điều § Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và Nghị

định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; ngoài ra, trình tự, thủ

tục ban hành Quyết định số 205/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện T1

không đúng quy định pháp luật khi chưa giải phóng mặt bằng đã đấu giá quyền

sử dụng đất. Các Quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân huyện

TI và Ủy ban nhân dân tỉnh P có nhiều điểm mâu thuẫn và không đúng thực tế.

Khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, Ủy ban nhân dân tỉnh P cũng

không gửi quyết định này cho vợ chồng ông H. Theo quy định của pháp luật

ông có quyền khởi kiện Quyết định số 1825/QĐ-UBND và Quyết định số

1445/QĐ-UBND chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng Ủy ban nhân dân huyện T1

đã ban hành và thực hiện cưỡng chế tài sản của gia đình ông là xâm phạm đến

quyền và lợi ích chính đáng của gia đình ông. Do đó, các ngày 18/8/2011, ngày

05/9/2011, ngày 12/9/2011, ngày 29/11/2011, ông Nguyễn Dực H có đơn khởi

kiện và đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 205/QĐ-

UBND ngày 02/3/2009 của Ủy ban nhân dân huyện TI, tỉnh P; Quyết định số

1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TI;

Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

tỉnh P; Quyết định số 787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011 của Ủy ban nhân dân

huyện T1; Thông báo só 04/TB-UBND ngày 03/8/2011 của Ủy ban nhân dân

thị trấn H, huyện TI, tỉnh P; yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T1 bồi thường

thiệt hại số tiền 942.500.000 đồng do việc cưỡng chế gây ra và bồi thường danh

dự nhân phẩm cho ông số tiền 300.000.000 đồng.

Quan điểm của người bị kiện:

Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P trình bày:

Việc ông H đề nghị được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất trên phần diện tích đất mua tài sản thanh lý (03 gian nhà làm việc) của

Tòa án nhân dân huyện T năm 1998 theo quy định tại điểm d khoản I Điều

50 của Luật Đất đai năm 2003 là không có cơ sở bởi vì: từ năm 1984 đến năm

2007, chủ sử dụng thửa đất số 57, tờ bản đồ số 19 là Tòa án nhân dân huyện

T1; ông H không phải là chủ sử dụng đất hợp pháp đối với phần diện tích gắn

liền với tài sản mua thanh lý. Tại Quyết định số 03/QĐ-TA của Tòa án nhân

dân huyện T và Hợp đồng mua bán nhà thanh lý của cơ quan Tòa án với ông `

H đã khăng định là bán thanh lý tài sản, không thể hiện tài sản thanh lý là nhà

ở gắn liền với đất ở như đơn ông H khiếu nại. Ông H cũng không phải là người

bị nhà nước thu hồi đất, không thuộc đối tượng được bôi thường về đất theo

quy định tại Điều § Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 29/12/2004 của

Chính phủ, ông H cũng không thuộc đối tượng được xem xét cấp giấy chứng

nhận theo quy định tại Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Việc Ủy ban nhân dân

huyện TI, Ủy ban nhân dân thị trấn H tổ chức thực hiện quy hoạch, đấu giá

quyền sử dụng đất tại khu vực Tòa án nhân dân huyện cũ để đầu tư cơ sở hạ

tầng, phát triển kinh tế, xã hội của địa phương thực hiện theo đúng quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2002-2010 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh P

phê duyệt. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P ban hành Quyết định số

1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông

Nguyễn Dực H là đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn

Dực H.

Người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện TI trình bày:

Ủy ban nhân dân huyện T1 nhận đơn khiếu nại của ông Nguyễn Dực H

về việc năm 2009 Ủy ban nhân dân huyện T1 thu hồi đất tại khu vực Tòa án

nhân dân huyện T (cñ) mà gia đình ông đã mua thanh lý năm 1998, nhưng ông

không được bồi thường nhà, đất. Ông H đề nghị được hợp thức hóa đất ở cho

gia đình ông tại khu đất nêu trên vì ông mua nhà thanh lý gắn liền với đất và

đang sử dụng ôn định. Ủy ban nhân dân huyện T1 khăng định Quyết định sô

03/QĐ-TA năm 1998 của Tòa án nhân dân huyện T có nội dung là thanh lý nhà

không phải thanh lý nhà ở găn liên với đât ở nên Quyết định này không phải là

giây tờ thanh lý, hóa giá nhà ở găn liên với đât ở theo quy định của Luật Đât

đai. Vì vậy, Ủy ban nhân dân huyện không châp nhận yêu câu khởi kiện của

ông Nguyên Dực H.

Tại Bản án hành chính sơ thâm số 23/2018/HC-ST ngày 15/11/2018,

Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định:

số 205/QĐ-UBND ngày 02/3/2009 của Ủy ban nhân dân huyện TÌI, tỉnh P;

Quyết định sô 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân

dân huyện TI, tỉnh P; Quyết định sô 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P; Quyết định sô 787/QĐ-UBND ngày

04/7/2011 của Ủy ban nhân dân huyện T1, tỉnh P.

2. Bác yêu cầu của ông Nguyễn Dực H buộc Ủy ban nhân dân huyện

TI, tỉnh P phải bôi thường cho ông sô tiên 942.500.000 đông thiệt hại về tài

sản do Quyết định cưỡng chê trái pháp luật gây ra.

3. Bác yêu cầu của ông Nguyễn Dực H buộc Ủy ban nhân dân huyện

T1, tỉnh P phải bồi thường cho ông 300.000.000 đông thiệt hại vê danh dự,

nhân phâm.

4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Dực H đối với Thông

báo sô 04/TB-UBND ngày 03/8/2011 của Ủy ban nhân dân thị trân H, huyện

TI, tỉnh P.

Tòa án cấp sơ thâm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/11/2018 và ngày 26/11/2018, ông Nguyễn Dực H và bà Nguyễn

Thị C có đơn kháng cáo đôi với bản án hành chính sơ thâm nêu trên.

Tại Bản án hành chính phúc thâm số 357/2019/HC-PT ngày 13/12/2019,

Tòa án nhân dân câp cao tại Hà Nội quyêt định:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Dực H và bà Nguyễn

Thị C và sửa một phân quyêt định của Bản án hành chính sơ thâm sô

23/2018/HC-ST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Xử:

1.1 Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Dực H yêu cầu hủy Quyết định

số 205/QĐ-UBND ngày 02/3/2009 của Ủy ban nhân dân T1, tỉnh P; Quyết

định sô 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

huyện TI, tỉnh P; Quyêt định sô 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của Chủ

tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P; Quyêt định sô 787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011

của Ủy ban nhân dân huyện TI, tỉnh P.

1.2 Bác yêu cầu của ông Nguyễn Dực H buộc Ủy ban nhân dân huyện

TI, tỉnh P phải bôi thường cho ông sô tiên 400.000.000 đông thiệt hại về tài

sản do quyết định cưỡng chê trái pháp luật gây ra.

1.3 Bác yêu cầu của ông Nguyễn Dực H buộc Ủy ban nhân dân huyện

TI, tỉnh P phải bồi thường cho ông 300.000.000 đồng thiệt hại về danh dự,

nhân phẩm.

1.4 Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Dực H đối với Thông

báo số 04/TB-UBND ngày 03/8/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện

T1, tỉnh P.

Buộc Ủy ban nhân dân thị trấn H phải trả lại giá trị tài sản nguyên vật

liệu của ông H, bà C được nhận lại là 272.000 đồng tiền giá trị tài sản nguyên

vật liệu bị cưỡng chế theo biên bản định giá tài sản ngày 02/11/2011, hiện số

tiền này đang lưu giữ tại ngân sách của Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý.

Tòa án cấp phúc thâm còn quyết định về án phí.

Ngày 10/5/2020, ông Nguyễn Dực H và bà Nguyễn Thị C có đơn đề nghị

xem xét bản án hành chính phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thâm.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thâm số 29/2022/KN-HC ngày

06/12/2022, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án hành chính

phúc thâm số 357/2019/HC-PT ngày 13/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao

tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám

đốc thẩm, hủy Bản án hành chính phúc thâm số 357/2019/HC-PT ngày

13/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Bản án hành chính sơ

thẩm số 23/2018/HC-ST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ

về phần “Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Dực H yêu cầu hủy Quyết định

số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện

TI, tỉnh P; Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của Chủ tịch Ủy

ban nhân dân tỉnh P; Quyết định số 787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011 của Ủy

ban nhân dân huyện TI, tỉnh P”; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh

Phú Thọ xét xử sơ thâm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao

đề nghị Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận quyết định

kháng nghị giám đốc thâm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Ngày 20/4/1998, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ ban hành

Quyết định số 03/QĐ-TA về việc bán thanh lý ô số 07 - Sơ đồ thanh lý tài sản

gồm 03 gian nhà của Tòa án nhân dân huyện T cho ông Nguyễn Dực H với số

tiền là 4.000.000 đồng. Ông H đã thanh toán tiền và đã nhận bàn giao đối với

tài sản thanh lý.

[2] Năm 1999, huyện T được chia tách thành hai huyện T1 và huyện T2

(tài sản thanh lý sau khi chia tách địa giới hành chính thuộc địa phận huyện

T1). Do không còn nhu cầu sử dụng, ngày 04/10/2004, Tòa án nhân dân huyện

T1 có Tờ trình số 100/TT.TĐ xin trả lại diện tích 3.049m2 đất trụ sở thuộc

thửa đất số 09 tờ bản đồ 5A cho Ủy ban nhân dân thị trấn H quản lý, sử dụng.

Ngày 20/11/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh P ban hành Quyết định số 3066/QĐÐ-

UBND thu hồi 1.430m2 đất phi nông nghiệp (trụ sở cũ) và Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất số A-366346 của Tòa án nhân dân huyện TÌ; giao số đất

phi nông nghiệp nêu trên cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện T1 quản lý

quỹ đất và để đưa vào sử dụng, sau khi có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

được cấp có thâm quyền phê duyệt; Ủy ban nhân dân thị trấn H có trách nhiệm

bồi thường thiệt hại cho chủ hộ đang quản lý, sử dụng bị thu hồi đất theo quy

định hiện hành.

[3] Căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại thị trấn H giai đoạn

2002-2010, căn cứ hồ sơ xin thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ

việc giao đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân năm 2008 tại thị trấn H, huyện

T1, ngày 26/3/2008, Ủy ban nhân dân huyện T1 ban hành Quyết định số

344/QĐ-UBND về việc thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất đối với

1.430m7 đất của Ủy ban nhân dân thị trân H quản lý; giao cho Ủy ban nhân

dân thị trấn H quản lý số diện tích đất thu hồi trên, lập hồ sơ giao đất ở cho

hộ gia đình, cá nhân trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt đê phục vụ việc

giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trong đó chuyên đổi 1.384m7 đất thành

loại đất ở và 46m” đất thành đất thủy lợi. Ngày 02/3/2009, Ủy ban nhân dân

huyện T1 ban hành Quyết định số 205/QĐ-UBND thu hồi 1.384m2 đất ở nêu

trên để tiến hành đấu giá quyền sử dụng đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân;

các tài sản mà ông H mua thanh lý cũng nằm trong phần diện tích đất bị thu

hồi nêu trên. Các Quyết định số 344/QĐ-UBND ngày 26/3/2008 và Quyết

định số 205/QĐ-UBND ngày 02/3/2009 đều có nội dung: Hội đồng bồi

thường, giải phóng mặt bằng các công trình khối kinh tế huyện chỉ đạo việc

bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với Ủy ban nhân dân thị trấn H cho các

hộ có đất, tài sản trên đất bị thu hồi.

[4] Việc Ủy ban nhân dân tỉnh P thực hiện thu hồi đất trụ sở cơ quan do

Tòa án nhân dân huyện T1 không còn nhu cầu sử dụng là theo quy định tại

khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 và thuộc trường hợp không phải bồi

thường về đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 43 Luật Đất đai năm 2003.

Do ông Nguyễn Dực H chỉ là người mua thanh lý tài sản, không phải người

mua tài sản gắn liền với đất nên Tòa án cấp sơ thấm, Tòa án cấp phúc thâm

xác định ông H không có đất bị thu hồi, không thuộc đối tượng đủ điều kiện

được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không được bồi thường về

đất là có căn cứ.

[5] Mặc dù người bị thu hồi đất là Tòa án nhân dân huyện T1 nhưng

ông H là người có tài sản trên đất (03 gian nhà thanh lý do mua hóa giá của

Tòa án nhân dân huyện T); tại Quyết định bán thanh lý nhà ngày 20/4/1998

của Tòa án nhân dân huyện T có nội dung sau khi nộp tiền xong ông H có

quyền sở hữu 03 gian nhà này, đồng thời tại Hợp đồng mua bán nhà thanh lý

cùng ngày giữa Tòa án nhân dân huyện T và ông H cũng thê hiện các thủ tục

đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền do ông H chịu trách nhiệm. Do

đó, có cơ sở để xác định việc nhận chuyển nhượng 03 gian nhà thanh lý của

ông H không phải là mua bán vật liệu mà ông H mua với mục đích sử dụng

để ở. 03 gian nhà này được ông H mua thanh lý trước thời điểm nhà nước có

quyết định thu hồi đất của Tòa án nhân dân huyện T1 và trước khi có quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại thị trấn H. Theo quy định tại khoản 3 Điều 43

Luật Đất đai năm 2003: “Người bị thu hồi đất quy định tại khoản 1 nhưng

không thuộc khoản 2 Điều này được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền

với đất bị thu hồi” nên lẽ ra, sau khi có quyết định thu hồi đất, Ủy ban nhân

dân huyện T1 phải thực hiện việc kiểm kê các tài sản của ông H để có cơ sở

xem xét việc bồi thường hoặc hỗ trợ đối với các tài sản có trên đất bị thu hồi

(nếu có) thì mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông H.

[6] Ngày 04/7/2011, Ủy ban nhân dân huyện TI ban hành Quyết định

số 787/QĐ-UBND về việc cưỡng chế giải phóng mặt bằng đối với tài sản của

hộ gia đình ông Nguyễn Dực H để giao cho các hộ gia đình trúng đấu giá

quyên sử dụng đất tại thị trấn H, huyện TI trong đó Ủy ban nhân dân huyện

T1 đã áp dụng Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ

quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử

phạt vi phạm hành chính; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/12/2009 của Chính phủ áp dụng đối

với trường hợp nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích

quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế là không đúng bởi lẽ: Trong

trường hợp này nhà nước thu hồi đất là do người sử dụng đất không còn nhu

cầu sử dụng đất, cơ quan có thâm quyền cũng chưa lập biên bản vi phạm hành

chính hoặc có quyết định xử phạt vi phạm hành chính nào đối với gia đình

ông H. Mặt khác, nội dung Quyết định số 787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011 của

Ủy ban nhân dân huyện T1 thể hiện: “Cưỡng chế giải phóng mặt bằng đối với

tài sản của hộ ông Nguyễn Dực H tại khu đất Trụ sở Tòa án nhân dân huyện

T cũ, khu 6 (khu T3), thị trấn H, huyện TÌI, tỉnh P, gồm: Ba gian nhà ông H :

mua thanh lý của Tòa án nhân dân huyện T cũ (nay là Tòa án nhân dân huyện

T1) và các công trình xây dựng thêm để bàn giao đất cho các hộ gia đình, cá

nhân trúng đấu giá” nhưng chưa xem xét, làm rõ các công trình xây dựng thêm

của gia đình ông H là những công trình nào, thời điểm xây dựng thêm ngoài

03 gian nhà mua thanh lý còn có tài sản nào khác không; trong khi ông H trình

bày trên đất còn có 01 gian làm quán bán hàng, xây dựng một giếng khơi, một

gian bếp, 02 cây gạo và 01 cây mít. Đồng thời, tại Báo cáo số 22/BC-UBND

về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng khu vực Tòa án nhân huyện (cũ)

ngày 08/4/2009 của Ủy ban nhân dân thị trấn H cũng xác nhận hiện trạng sau

khi các hộ dân mua nhà thanh lý của Tòa án nhân dân huyện T có tu sửa, xây

dựng thêm. Sau khi có Quyết định cưỡng chế, Ủy ban nhân dân thị trấn H đã

ban hành Kế hoạch số 08/KH-UBND ngày 06/7/2011 về cưỡng chế giải phóng

mặt bằng đối với tài sản của hộ gia đình ông H cũng xác định có phần xây

dựng thêm, có 01 gian quán trên đất.

[7] Ngày 03/8/2011, Ủy ban nhân dân thị trấn H ban hành Thông báo

số 04/TB-UBND về kế hoạch cưỡng chế, thời gian thực hiện cưỡng chế; ông

H đã nhận được thông báo này. Ngày 09/8/2011, trước thời điểm thực hiện

cưỡng chế giải phóng mặt bằng, Ủy ban nhân dân thị trấn H mới tiến hành lập

Biên bản kiểm kê đối với tài sản của hộ gia đình ông H nhưng xác định ngoài

§

03 gian nhà trên đất không còn tài sản nào khác là không đúng với thực tế.

Ông H có mặt tại thời điểm cưỡng chế nhưng sau đó bỏ về không ký vào biên

bản cưỡng chế giải phóng mặt bằng. Cùng ngày 09/8/2011, sau khi đã tiến

hành cưỡng chế, Ủy ban nhân dân thị trắn H đã lập Biên bản kiểm kê tài sản

đối với các tài sản còn lại (gồm cửa gỗ, gạch chỉ...) và đến ngày 02/11/2011,

tiến hành định giá tài sản, đồng thời bán thanh lý các tài sản này được số tiền

272.000 đồng: sung số tiền nêu trên vào công quỹ do Ủy ban nhân dân thị trấn

H quản lý là không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp đối

với các tài sản thuộc quyền sở hữu của gia đình ông H.

[8J Khi ông H có khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T1 ban

hành Quyết định số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 bác đơn của ông H

khiếu nại việc Ủy ban nhân dân huyện T1 thu hồi đất tại khu vực Tòa án nhân

dân huyện T (cũ) mà gia đình ông đã mua nhà thanh lý năm 1998 nhưng không

được bồi thường về đất là có cơ sở; tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân

huyện T1 chưa xem xét giải quyết triệt để những vấn đề liên quan đến tài sản

trên đất là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông H. Tại Quyết định

số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P vẫn giữ

nguyên nội dung Quyết định số 1825/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân

dân huyện T1 cũng là không đúng.

[9] Khi ông H khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định về thu hồi đất,

quyết định về giải quyết khiếu nại và thông báo về kế hoạch cưỡng chế giải

phóng mặt bằng, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông H mà

chưa xem xét quyền lợi về phần tài sản của gia đình ông H trên phần đất bị

thu hồi, cưỡng chế là chưa đủ căn cứ. Tòa án cấp phúc thâm sửa một phần bản

án sơ thâm, buộc Ủy ban nhân dân thị trấn H trả lại giá trị tài sản nguyên vật

liệu bị cưỡng chế trị giá 272.000 đồng (là giá trị tài sản còn lại sau khi bán

đầu giá) cũng là không đúng.

Vì các lẽ trên;

QUYÉT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 266, khoản 3 Điều 272 và Điều 274

Luật Tố tụng hành chính năm 2015:

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 29/2022/KN-

HC ngày 06/12/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án

hành chính phúc thâm số 357/2019/HC-PT ngày 13/12/2019 của Tòa án nhân

dân cấp cao tại Hà Nội.

2. Hủy Bản án hành chính phúc thấm số 357/2019/HC-PT ngày

13/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Bản án hành chính sơ

thâm số 23/2018/HC-ST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ

về phần “Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Dực H yêu cầu hủy Quyết định

số 1825/QĐ-UBND ngày 22/10/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện

TI, tỉnh P; Quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 26/4/2011 của Chủ tịch Ủy

ban nhân dân tỉnh P; Quyết định số 787/QĐ-UBND ngày 04/7/2011 của Ủy

ban nhân dân huyện TÌI, tỉnh P”.

3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết sơ

thấm lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“f5J Mặc dù người bị thu hôi đất là Tòa án nhân dân huyện T1 nhưng

ông H là người có tài sản trên đất (03 gian nhà thanh lý do mua hóa giá của

Tòa án nhân dân huyện T); tại Quyết định bán thanh lý nhà ngày 20/4/1998

của Tòa án nhân dân huyện T có nội dung sau khi nộp tiền xong ông H có

quyên sở hữu 03 gian nhà này, đông thời tại Hợp đồng mua bán nhà thanh lý

cùng ngày giữa Tòa án nhân dân huyện T và ông H cũng thể hiện các thủ tục

đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyên do ông H chịu trách nhiệm. Do

đó, có cơ sở đề xác định việc nhận chuyển nhượng 03 gian nhà thanh lý của

ông H không phải là mua bán vật liệu mà ông H mua với mục đích sử dụng

để ở. 03 gian nhà này được ông H mua thanh lý trước thời điểm nhà nước có

quyết định thu hôi đất của Tòa án nhân dân huyện T1 và trước khi có quy

hoạch, kế hoạch sử đụng đất tại thị trấn H. Theo quy định tại khoản 3 Điễu

43 Luật Đất đai năm 2003: “Người bị thu hôi đất quy định tại khoản 1 nhưng

không thuộc khoản 2 Điểu này được bôi thường thiệt hại về tài sản gắn liên

với đất bị thu hồi ” nên lẽ ra, sau khi có quyết định thu hôi đất, Ủy ban nhân

dân huyện T1 phải thực hiện việc kiểm kê các tài sản của ông H để có cơ sở

xem xét việc bồi thường hoặc hỗ trợ đối với các tài sản có trên đất bị thu hồi

(nếu có) thì mới đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông “”

Liên hệ Công ty Luật Minh Bạch: 0987 892 333 – info@luatminhbach.vn.