Bình luận Điều 23 Luật Đất đai 2024: Quyền của công dân đối với đất đai | Công ty Luật Minh Bạch

Bình luận Điều 23 Luật Đất đai 2024: Quyền của công dân đối với đất đai

Đất đai & nhà ở · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/11

Điều 23. Quyền của công dân đối với đất đai 1. Tham gia xây dựng, góp ý, giám sát trong việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai. 2. Tham gia quản lý nhà nước, góp ý, thảo luận và kiến nghị, phản ánh với cơ quan nhà nước về công tác quản lý, sử dụng đất đai. 3. Quyền về bình đẳng, bình đẳng giới trong quản lý, sử dụng đất đai. 4. Tham gia đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật; đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất không đấu giá quyền sử dụng đất, không đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 5. Nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất; mua, bán, nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 6. Thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 23 Luật Đất đai 2024 (trích nguyên văn)

Nội dung Điều 23 Luật Đất đai 2024 (trích nguyên văn)

Điều 23 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) quy định:

"Điều 23. Quyền của công dân đối với đất đai

1. Tham gia xây dựng, góp ý, giám sát trong việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai.

2. Tham gia quản lý nhà nước, góp ý, thảo luận và kiến nghị, phản ánh với cơ quan nhà nước về công tác quản lý, sử dụng đất đai.

3. Quyền về bình đẳng, bình đẳng giới trong quản lý, sử dụng đất đai.

4. Tham gia đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật; đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất không đấu giá quyền sử dụng đất, không đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

5. Nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất; mua, bán, nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

6. Thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật này."

Phân tích

Điều 23 hiến định hóa vị thế chủ thể của công dân trong quan hệ đất đai, tách biệt với tư cách "người sử dụng đất" tại Điều 26. Khoản 1, 2 ghi nhận quyền dân chủ trực tiếp: góp ý dự thảo, giám sát thực thi, phản ánh qua tiếp công dân, hòm thư điện tử — cơ chế cụ thể hóa tại Điều 226 về giám sát, phản ánh. Khoản 3 khẳng định bình đẳng giới, phù hợp Điều 26 Hiến pháp 2013; thực tiễn là việc cấp Giấy chứng nhận cho cả vợ và chồng khi đất là tài sản chung.

Khoản 4, 5 mở rộng cơ hội tiếp cận đất đai qua đấu giá, đấu thầu, chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn — kể cả mua bán cổ phần có giá trị quyền sử dụng đất, phản ánh thị trường hóa đất đai. Khoản 6 dẫn chiếu Điều 26 về các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để lại thừa kế, góp vốn.

Ví dụ: hộ gia đình góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp (khoản 5) hoặc cá nhân tham gia đấu giá đất ở (khoản 4) — đều cần tuân thủ điều kiện tại Điều 27 và trình tự tại Điều 125.

2. Quyền tham gia xây dựng, giám sát chính sách đất đai

Quyền tham gia xây dựng, giám sát chính sách đất đai

Khoản 1 Điều 23 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) xác lập quyền của công dân "tham gia xây dựng, góp ý, giám sát trong việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai". Khoản 2 bổ sung quyền "tham gia quản lý nhà nước, góp ý, thảo luận và kiến nghị, phản ánh với cơ quan nhà nước về công tác quản lý, sử dụng đất đai". Hai khoản này thể chế hóa quyền dân chủ trực tiếp, tạo kênh để người dân không chỉ là đối tượng bị điều chỉnh mà còn là chủ thể tham gia vào quá trình chính sách.

Quyền góp ý gắn với trình tự lấy ý kiến nhân dân khi cơ quan nhà nước soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đây là cơ chế phản biện xã hội ở cấp cơ sở, giúp phát hiện điểm chưa hợp lý trước khi chính sách đi vào cuộc sống.

Quyền giám sát cho phép công dân theo dõi việc tổ chức thực hiện chính sách, phát hiện sai phạm, tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất và kiến nghị, phản ánh tới cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ thực tiễn: người dân giám sát việc công khai quy hoạch sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, phát hiện dự án triển khai không đúng quy hoạch đã công bố và kiến nghị cơ quan thanh tra, kiểm tra. Tương tự, khi Nhà nước thu hồi đất, công dân có quyền góp ý vào phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi phê duyệt.

Quyền này có ý nghĩa bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, đồng thời tăng tính chính đáng và khả năng chấp hành của chính sách đất đai. Tuy nhiên, hiệu lực thực thi phụ thuộc vào cơ chế tiếp nhận, phản hồi ý kiến và công khai kết quả giải quyết kiến nghị, phản ánh của công dân theo quy định của pháp luật.

3. Quyền tiếp cận thông tin và góp ý quy hoạch

Quyền tiếp cận thông tin và góp ý quy hoạch

Điều 23 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) ghi nhận quyền của công dân đối với đất đai. Khoản 1 Điều 23 xác lập quyền tham gia xây dựng, góp ý, giám sát trong hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai. Khoản 2 Điều 23 mở rộng: công dân tham gia quản lý nhà nước, góp ý, thảo luận và kiến nghị, phản ánh với cơ quan nhà nước về công tác quản lý, sử dụng đất đai.

Hai khoản này là cơ sở pháp lý trực tiếp cho quyền tiếp cận thông tin và góp ý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất là quyết định hành chính tác động trực tiếp đến quyền sử dụng đất của hàng triệu hộ gia đình, cá nhân. Do đó, việc công dân được biết, được bàn, được kiểm tra là yêu cầu của quản trị đất đai minh bạch.

Phân tích nội dung quyền:

  • Tiếp cận thông tin: công dân có quyền được cung cấp thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giá đất, bảng giá đất. Đây là tiền đề để thực hiện các quyền ở khoản 1 và khoản 2 Điều 23.
  • Góp ý quy hoạch: công dân tham gia ý kiến trong quá trình lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất các cấp. Ý kiến góp ý là kênh phản biện xã hội, giúp cơ quan lập quy hoạch cân nhắc lợi ích cộng đồng, hạn chế quy hoạch "treo", quy hoạch gây xáo trộn đời sống.
  • Giám sát: công dân theo dõi việc tổ chức thực hiện quy hoạch, phát hiện sai phạm, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Ví dụ thực tiễn: Khi UBND cấp huyện công bố dự thảo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030, hộ dân có đất nằm trong vùng quy hoạch chuyển mục đích sang đất công nghiệp có quyền gửi văn bản góp ý, kiến nghị giữ lại diện tích đất ở, đề nghị làm rõ phương án bồi thường. Ý kiến được tổng hợp, giải trình theo quy định. Nếu cơ quan nhà nước không tiếp nhận, công dân có quyền phản ánh theo khoản 2 Điều 23.

Lưu ý thực thi: Quyền góp ý chỉ có ý nghĩa khi đi kèm nghĩa vụ công khai, giải trình của cơ quan nhà nước. Công dân cần chủ động theo dõi cổng thông tin đất đai, kỳ họp HĐND, và gửi ý kiến đúng thời hạn lấy ý kiến. Quyền tiếp cận thông tin và góp ý quy hoạch theo Điều 23 là công cụ để bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp, đồng thời nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về đất đai.

4. Ví dụ áp dụng: người dân góp ý quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Ví dụ áp dụng: người dân góp ý quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) trao cho công dân quyền tham gia xây dựng, góp ý, giám sát chính sách, pháp luật đất đai; tham gia quản lý nhà nước, góp ý, thảo luận, kiến nghị, phản ánh với cơ quan nhà nước về quản lý, sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là đối tượng trực tiếp của các quyền này.

Giả định: UBND huyện X công bố dự thảo quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021–2030, chuyển 40 ha đất nông nghiệp sang đất ở và đất công nghiệp. Người dân thực hiện quyền theo trình tự:

  • Góp ý dự thảo: hộ dân có đất bị chuyển mục đích gửi văn bản góp ý, nêu tác động đến sinh kế, đề nghị giữ lại diện tích canh tác. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 23.
  • Kiến nghị, phản ánh: khi phát hiện diện tích đất công bị đưa vào quy hoạch không đúng hiện trạng, công dân kiến nghị UBND huyện và cơ quan tài nguyên – môi trường làm rõ. Căn cứ khoản 2 Điều 23.
  • Giám sát thực hiện: sau khi quy hoạch được phê duyệt, công dân giám sát việc triển khai, phản ánh sai lệch so với phương án đã công bố. Căn cứ khoản 1 Điều 23.

Ý nghĩa: cơ chế góp ý, kiến nghị, giám sát bảo đảm tính công khai, minh bạch của quy hoạch, hạn chế điều chỉnh tùy tiện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Đây là biểu hiện cụ thể của quyền công dân đối với đất đai theo Điều 23, đồng thời là kênh để cơ quan nhà nước tiếp thu, hoàn thiện phương án trước khi phê duyệt.

5. Ví dụ áp dụng: yêu cầu công khai hồ sơ địa chính

Ví dụ áp dụng: yêu cầu công khai hồ sơ địa chính

Khoản 2 Điều 23 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) trao quyền công dân "góp ý, thảo luận và kiến nghị, phản ánh với cơ quan nhà nước về công tác quản lý, sử dụng đất đai". Quyền này bao hàm việc yêu cầu cơ quan địa chính cung cấp, công khai thông tin hồ sơ địa chính liên quan đến thửa đất mình có quyền lợi.

Tình huống. Ông A sở hữu thửa đất tại xã X. Khi làm thủ tục chuyển nhượng, ông phát hiện diện tích trên Giấy chứng nhận nhỏ hơn diện tích đo đạc thực tế và nghi ngờ hồ sơ địa chính có sai lệch. Ông A gửi văn bản đề nghị Văn phòng Đăng ký đất đai cung cấp trích lục bản đồ địa chính, thông tin về thửa đất và biến động đất đai liên quan.

Phân tích. Yêu cầu của ông A là thực hiện quyền tại khoản 2 Điều 23: phản ánh, kiến nghị về công tác quản lý đất đai và giám sát tính chính xác của hồ sơ. Cơ quan địa chính có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết theo trình tự công khai thông tin đất đai. Trường hợp phát hiện sai sót, ông A tiếp tục kiến nghị chỉnh lý hồ sơ — vẫn trong phạm vi quyền giám sát, phản ánh tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23.

Giá trị thực tiễn. Cơ chế này biến quyền trừu tượng thành công cụ kiểm tra cụ thể: công dân không chỉ "được nghe" mà chủ động yêu cầu minh bạch hồ sơ, góp phần hạn chế sai sót, tiêu cực trong quản lý địa chính. Đây là biểu hiện của quyền tham gia quản lý nhà nước về đất đai được hiến định và cụ thể hóa tại Điều 23.

6. Lưu ý thực tiễn và kết luận

Lưu ý thực tiễn

Điều 23 ghi nhận quyền nhưng phần lớn là quyền được thực hiện theo quy định của pháp luật (khoản 4, 5, 6). Hiệu lực thực tế phụ thuộc thủ tục cụ thể tại các chương sau. Ví dụ: quyền tham gia đấu giá (khoản 4) chỉ có ý nghĩa khi công khai thông tin đấu giá, điều kiện tham gia minh bạch; quyền góp ý, giám sát (khoản 1, 2) cần cơ chế tiếp nhận, phản hồi của cơ quan nhà nước, nếu không dễ thành quyền hình thức.

Khoản 3 về bình đẳng giới cần đọc cùng quy định cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, vợ chồng — thực tiễn từng ghi tên một người, ảnh hưởng quyền định đoạt của người còn lại. Khoản 5 về cổ phần, phần vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất đặt ra yêu cầu kiểm tra pháp lý doanh nghiệp trước khi nhận chuyển nhượng, tránh tranh chấp về đất đã góp vốn.

Về khiếu nại, phản ánh (khoản 2), công dân cần xác định đúng thẩm quyền, trình tự, thời hiệu theo pháp luật khiếu nại, tố cáo để tránh bị trả đơn.

Kết luận

Điều 23 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) hiến định hóa vị thế chủ thể của công dân trong quan hệ đất đai: từ tham gia hoạch định chính sách, giám sát, đến các quyền kinh tế cụ thể (đấu giá, chuyển nhượng, góp vốn). Đây là nền tảng để các quy định thủ tục phải bảo đảm tính khả thi, công khai, minh bạch. Việc thực thi hiệu quả đòi hỏi cơ chế phản hồi của cơ quan nhà nước và sự chủ động của công dân trong việc nắm rõ trình tự pháp luật khi thực hiện từng quyền.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) - Điều 23
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp