Điều 25. Thời gian thử việc Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây: 1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; 2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; 3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; 4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khái quát Điều 25 Bộ luật Lao động 2019
Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời gian thử việc, gồm hai nội dung cốt lõi: nguyên tắc thỏa thuận và giới hạn thời gian theo tính chất công việc.
Thứ nhất, nguyên tắc thỏa thuận. Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận, căn cứ tính chất và mức độ phức tạp của công việc. Pháp luật không ấn định cứng mà trao quyền tự định đoạt, nhưng giới hạn bằng các mức trần tại các khoản 1–4.
Thứ hai, nguyên tắc thử việc một lần. Điều 25 xác lập giới hạn: "chỉ được thử việc một lần đối với một công việc". Theo đó, người sử dụng lao động không được kéo dài, không được thử lại cùng một công việc, kể cả khi gia hạn hợp đồng. Ví dụ: doanh nghiệp tuyển kế toán trưởng thử việc 60 ngày, hết hạn không được yêu cầu thử thêm 30 ngày với cùng vị trí.
Thứ ba, các mức giới hạn cụ thể.
Ý nghĩa thực tiễn. Quy định vừa bảo vệ người lao động khỏi bị lạm dụng thử việc kéo dài, vừa tạo hành lang cho người sử dụng lao động đánh giá năng lực. Thỏa thuận vượt mức trần tại Điều 25 vô hiệu phần vượt; người sử dụng lao động có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Do đó, hợp đồng thử việc cần ghi rõ thời hạn, đối chiếu đúng khoản tương ứng với tính chất công việc.
Nội dung Điều 25. Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận, căn cứ tính chất và mức độ phức tạp của công việc, nhưng ràng buộc hai giới hạn: chỉ được thử việc một lần đối với một công việc, và không vượt các mức trần sau:
Phân tích. Thời gian thử việc là thỏa thuận, không phải nghĩa vụ. Các mức 180, 60, 30, 06 ngày là giới hạn tối đa, không phải định mức áp dụng đương nhiên. Nguyên tắc "một lần đối với một công việc" chặn việc kéo dài thử việc bằng cách ký lại hợp đồng thử việc hoặc luân chuyển hình thức. Căn cứ phân loại là tính chất, mức độ phức tạp của công việc, gắn với yêu cầu trình độ của chức danh nghề nghiệp.
Ví dụ thực tiễn. Tuyển Giám đốc chi nhánh (người quản lý doanh nghiệp) — thử việc tối đa 180 ngày. Tuyển kỹ sư phần mềm (cao đẳng trở lên) — tối đa 60 ngày. Tuyển kế toán viên trung cấp — tối đa 30 ngày. Tuyển nhân viên tạp vụ — tối đa 06 ngày làm việc. Thỏa thuận 90 ngày cho kỹ sư là vượt trần, phần vượt không có hiệu lực.
Quy định liên quan. Thời gian thử việc phải ghi trong hợp đồng thử việc theo Điều 24; hết thử việc phải thông báo kết quả theo Điều 27; trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường, trừ trường hợp thỏa thuận khác. Tiền lương thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó theo Điều 26.
Khái niệm thử việc. Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 xác lập thử việc là giai đoạn hai bên thử nghiệm công việc trước khi giao kết hợp đồng lao động chính thức. Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận, căn cứ tính chất và mức độ phức tạp của công việc, nhưng bị giới hạn bởi hai ràng buộc: chỉ thử việc một lần đối với một công việc và không vượt trần luật định.
Quyền của các bên. Người sử dụng lao động được ấn định thời hạn thử việc trong phạm vi bốn mức tại các khoản 1-4 Điều 25: tối đa 180 ngày với công việc của người quản lý doanh nghiệp; 60 ngày với công việc cần trình độ từ cao đẳng trở lên; 30 ngày với công việc cần trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; 06 ngày làm việc với công việc khác. Người lao động có quyền từ chối thời hạn vượt trần, quyền được trả lương và hưởng chế độ trong thời gian thử việc theo thỏa thuận.
Nghĩa vụ pháp lý. Hai bên phải giao kết hợp đồng thử việc bằng văn bản nếu có thỏa thuận thử việc. Người sử dụng lao động không được bố trí thử việc lần thứ hai cho cùng một công việc, kể cả khi đã chấm dứt hợp đồng thử việc rồi tuyển lại vào vị trí cũ. Vi phạm trần thời gian hoặc thử việc lặp lại làm phát sinh trách nhiệm bồi thường theo quy định pháp luật.
Ví dụ thực tiễn. Công ty A tuyển kế toán trưởng, thỏa thuận thử việc 90 ngày. Công việc này không thuộc nhóm quản lý doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp và chỉ cần trình độ đại học, nên trần áp dụng là 60 ngày (khoản 2 Điều 25). Phần 30 ngày vượt trần không có hiệu lực; người lao động được hưởng quyền lợi như làm việc chính thức trong khoảng vượt đó.
Việc xác định đúng nhóm công việc tại khoản 1-4 Điều 25 là cơ sở then chốt để định thời hạn thử việc hợp pháp.
Liên hệ Điều 24 (thử việc): Điều 25 giới hạn thời gian; Điều 24 xác lập hình thức. Hai bên phải giao kết hợp đồng thử việc trước khi nhận việc, nội dung gồm thời gian thử việc, quyền và nghĩa vụ. Thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động chính thức vẫn được, nhưng phải tách bạch nội dung thử việc. Không giao kết hợp đồng thử việc mà nhận người vào làm → vi phạm Điều 24, không có căn cứ áp dụng mức thời gian tại Điều 25.
Liên hệ Điều 26 (kết thúc thử việc): Điều 25 quy định trần thời gian; Điều 26 quy định hệ quả. Hết thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả. Đạt yêu cầu → tiếp tục hợp đồng đã giao kết hoặc giao kết hợp đồng lao động. Không đạt → chấm dứt hợp đồng thử việc. Trong thời gian thử việc, mỗi bên được hủy bỏ không cần báo trước và không phải bồi thường, trừ thỏa thuận khác. Ví dụ: doanh nghiệp thử việc kế toán trưởng 60 ngày (mức cao đẳng trở lên, khoản 2) — hết 60 ngày phải thông báo kết quả; không được kéo dài thêm mà không có thỏa thuận mới hợp pháp.
Liên hệ Điều 20 (hợp đồng lao động): Thời gian thử việc không tính vào thời hạn hợp đồng lao động chính thức. Hợp đồng thử việc là loại riêng, không thay thế hợp đồng lao động. Khi chuyển sang hợp đồng chính thức, thời hạn tính từ ngày hợp đồng chính thức có hiệu lực.
Liên hệ Điều 27 (giao kết hợp đồng lao động): Hết thử việc đạt yêu cầu, hai bên giao kết hợp đồng lao động. Thời gian thử việc đã thực hiện không bị tính trùng vào thời hạn hợp đồng chính thức, trừ khi các bên thỏa thuận khác phù hợp pháp luật.
Liên hệ Điều 90, 91 (tiền lương): Người thử việc được trả lương theo công việc, tối thiểu 85% mức lương của công việc đó. Trần thời gian tại Điều 25 là căn cứ xác định thời gian hưởng mức lương thử việc. Ví dụ: thử việc nhân viên nghiệp vụ 30 ngày (khoản 3) — quá 30 ngày mà vẫn trả lương 85% là trái quy định.
Liên hệ Điều 36 (đơn phương chấm dứt): Hết thời gian thử việc mà người sử dụng lao động vẫn tiếp nhận người lao động làm việc thì hợp đồng đã giao kết có hiệu lực; không được viện lý do "chưa đạt thử việc" để đơn phương chấm dứt trái pháp luật.
Thực tiễn áp dụng và lưu ý
Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 khống chế thời gian thử việc theo tính chất, mức độ phức tạp công việc, đồng thời giới hạn chỉ thử việc một lần đối với một công việc. Thực tiễn cho thấy nhiều tranh chấp phát sinh từ việc xác định sai nhóm công việc và hành vi kéo dài, lặp lại thử việc.
Xác định đúng nhóm công việc. Mức trần phụ thuộc chức danh nghề nghiệp, không phụ thuộc thâm niên hay mức lương. Ví dụ: tuyển kế toán trưởng yêu cầu trình độ đại học thuộc khoản 2 (tối đa 60 ngày); tuyển công nhân vận hành máy thuộc khoản 3 (tối đa 30 ngày); công việc tạp vụ, bảo vệ thuộc khoản 4 (tối đa 06 ngày làm việc). Người quản lý doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp thuộc khoản 1 (tối đa 180 ngày).
Lưu ý "một lần đối với một công việc". Không được ký hợp đồng thử việc lần hai cho cùng vị trí, kể cả sau khi đã ký hợp đồng lao động chính thức rồi chuyển lại thử việc. Nếu bố trí công việc khác về bản chất thì mới phát sinh quyền thử việc mới. Doanh nghiệp cần ghi rõ vị trí, nội dung công việc trong hợp đồng thử việc để tránh bị coi là lách luật.
Hệ quả vượt trần. Thời gian thử việc vượt quá giới hạn Điều 25 không làm hợp đồng vô hiệu toàn bộ, nhưng phần vượt bị xử lý theo hướng có lợi cho người lao động; người sử dụng lao động còn có thể bị xử phạt hành chính về vi phạm thời gian thử việc.
Khuyến nghị. Rà soát bản mô tả công việc gắn với yêu cầu trình độ; ấn định thời gian thử việc trong khung Điều 25; lưu hồ sơ chứng minh chỉ thử việc một lần; chuyển sang hợp đồng chính thức đúng hạn khi hết thử việc đạt yêu cầu.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: