Bình luận Điều 113 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng | Công ty Luật Minh Bạch

Bình luận Điều 113 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 113. Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng 1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường. 2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; b) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu; c) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức, cá nhân; d) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng. 3. Việc bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 113 BLTTDS 2015

Nội dung Điều 113 BLTTDS 2015 quy định về trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, được cấu trúc thành ba khoản với hai chủ thể chịu trách nhiệm chính.

Khoản 1 xác lập trách nhiệm của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo đó, người yêu cầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; nếu yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc chịu trách nhiệm về tính có căn cứ của yêu cầu, đồng thời bảo vệ quyền lợi của bên bị áp dụng trong trường hợp yêu cầu đó không có căn cứ.

Khoản 2 quy định trách nhiệm bồi thường của Tòa án khi Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba. Tòa án chỉ phải bồi thường khi thuộc một trong bốn trường hợp: (a) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; (b) áp dụng biện pháp khác với biện pháp mà cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu; (c) áp dụng biện pháp vượt quá yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân; (d) áp dụng không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng. Việc liệt kê cụ thể này bảo đảm tính chặt chẽ, tránh quy kết trách nhiệm bồi thường một cách tùy tiện.

Khoản 3 dẫn chiếu việc bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 2 được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Ví dụ thực tiễn: A khởi kiện đòi nợ B và yêu cầu phong tỏa tài khoản ngân hàng của B. Sau khi xét xử, Tòa án xác định A không có căn cứ chứng minh khoản nợ, việc phong tỏa khiến B mất cơ hội thanh toán hợp đồng, thiệt hại 200 triệu đồng. Trường hợp này theo khoản 1 Điều 113, A phải bồi thường cho B. Ngược lại, nếu Tòa án tự mình phong tỏa vượt quá tài sản tranh chấp và gây thiệt hại, Tòa án phải bồi thường theo điểm a, c khoản 2 Điều 113, và trình tự bồi thường thực hiện theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

2. Phân tích quy định pháp luật

Phân tích quy định pháp luật

Điều 113 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, với hai chủ thể chịu trách nhiệm chính: người yêu cầu và Tòa án.

Thứ nhất, trách nhiệm của người yêu cầu (khoản 1). Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Khi yêu cầu không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì phải bồi thường. Đây là trách nhiệm bồi thường dân sự theo nguyên tắc có lỗi, xuất phát từ việc người yêu cầu đã không chứng minh được tính có căn cứ của yêu cầu. Ví dụ, doanh nghiệp A yêu cầu phong tỏa tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp B do tranh chấp hợp đồng, nhưng sau đó Tòa án xác định yêu cầu không có căn cứ, khiến B thiệt hại do không thanh toán được cho đối tác; khi đó A phải bồi thường.

Thứ hai, trách nhiệm của Tòa án (khoản 2). Tòa án chỉ phải bồi thường khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thuộc một trong bốn trường hợp: (a) tự mình áp dụng; (b) áp dụng biện pháp khác với biện pháp được yêu cầu; (c) áp dụng vượt quá yêu cầu; (d) không đúng thời hạn hoặc không áp dụng mà không có lý do chính đáng. Quy định này giới hạn phạm vi trách nhiệm nhà nước, tránh việc Tòa án phải bồi thường tràn lan. Ví dụ, nếu đương sự yêu cầu phong tỏa 500 triệu đồng nhưng Tòa án phong tỏa toàn bộ 2 tỷ đồng trong tài khoản, gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh, thì thuộc điểm c khoản 2 và Tòa án phải bồi thường.

Thứ ba, cơ chế bồi thường (khoản 3). Việc bồi thường thiệt hại do Tòa án gây ra được thực hiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bảo đảm trình tự, thủ tục và mức bồi thường chặt chẽ, có sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

3. Thực tiễn áp dụng và lưu ý

Thực tiễn áp dụng

Thực tiễn xét xử cho thấy phần lớn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) xuất phát từ phía đương sự. Khi đó, theo khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người yêu cầu tự chịu trách nhiệm; nếu yêu cầu không đúng gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì phải bồi thường. Tòa án không phải bồi thường trong trường hợp này. Ví dụ: nguyên đơn yêu cầu phong tỏa tài khoản của bị đơn để bảo đảm thi hành án, nhưng sau đó rút đơn hoặc chứng minh không đủ căn cứ; bị đơn chịu thiệt hại do tài khoản bị phong tỏa, nguyên đơn phải bồi thường.

Ngược lại, trách nhiệm bồi thường của Tòa án chỉ phát sinh trong bốn trường hợp tại khoản 2 Điều 113: (a) Tòa án tự mình áp dụng; (b) áp dụng biện pháp khác với biện pháp được yêu cầu; (c) áp dụng vượt quá yêu cầu; (d) áp dụng không đúng thời hạn hoặc không áp dụng mà không có lý do chính đáng. Đây là các trường hợp Tòa án chủ động hoặc sai lệch so với yêu cầu, làm phát sinh trách nhiệm nhà nước. Việc bồi thường theo khoản 3 được thực hiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Lưu ý

Một, người yêu cầu phải cân nhắc kỹ căn cứ và phạm vi yêu cầu; yêu cầu rộng, thiếu căn cứ dễ dẫn tới nghĩa vụ bồi thường theo khoản 1. Hai, khi thụ lý, Tòa án cần bám sát đúng biện pháp, đúng phạm vi, đúng thời hạn mà đương sự yêu cầu; nếu tự mình hoặc điều chỉnh khác yêu cầu thì phải xác định rõ rủi ro trách nhiệm theo khoản 2. Ba, phân biệt rạch ròi giữa trách nhiệm dân sự của đương sự (khoản 1) và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (khoản 2, 3) để xác định đúng cơ quan, thủ tục và nguồn bồi thường.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 113
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp