Điều 26. Quyền có họ, tên 1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó. 2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng. Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. 3. Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này. Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằ
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khoản 1 – Quyền có họ, tên. Điều 26 ghi nhận cá nhân có quyền có họ, tên, bao gồm cả chữ đệm nếu có. Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh. Đây là quyền nhân thân gắn với cá nhân từ khi sinh ra, không thể chuyển giao, là cơ sở để phân biệt chủ thể trong quan hệ dân sự và để xác lập, thực hiện các quyền khác.
Khoản 2 – Xác định họ. Điều luật đặt thứ tự ưu tiên rõ ràng: trước hết theo thỏa thuận của cha mẹ (họ cha đẻ hoặc họ mẹ đẻ); không có thỏa thuận thì theo tập quán; chưa xác định được cha đẻ thì theo họ mẹ đẻ. Với trẻ bị bỏ rơi đã được nhận làm con nuôi, họ xác định theo họ cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi; chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì theo họ người đó. Trẻ bị bỏ rơi chưa được nhận làm con nuôi thì họ xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng hoặc người có yêu cầu đăng ký khai sinh đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ. Khoản này cũng giải thích cha đẻ, mẹ đẻ là cha, mẹ xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ, bao gồm cả người nhờ mang thai hộ với người sinh ra từ việc mang thai hộ theo Luật Hôn nhân và gia đình.
Khoản 3 – Hạn chế đặt tên. Việc đặt tên bị hạn chế khi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015. Tên công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự không phải là chữ. Ví dụ, đặt tên con trùng hoàn toàn với tên một người nổi tiếng nhằm mục đích trục lợi, xúc phạm, hoặc đặt tên chỉ gồm chữ số đều không được chấp nhận khi đăng ký khai sinh.
Khoản 4 – Hệ quả pháp lý. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình; họ, tên là yếu tố định danh chủ thể trong giao dịch, hợp đồng, tố tụng.
Khoản 5 – Bí danh, bút danh. Cá nhân được sử dụng bí danh, bút danh nhưng không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Chẳng hạn, dùng bút danh trùng tên tác giả khác để gây nhầm lẫn về nguồn gốc tác phẩm là hành vi bị coi là xâm phạm.
Ý nghĩa. Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) hiến định quyền nhân thân cơ bản: họ, tên xác lập nhân dạng pháp lý cá nhân, gắn với đăng ký hộ tịch, khai sinh. Khoản 1 khẳng định cá nhân có quyền có họ, tên, thống nhất họ tên được xác định theo họ tên khai sinh; khoản 4 hệ quả: cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình. Điều luật bảo đảm ổn định quan hệ dân sự, xác định chủ thể trong giao dịch, tố tụng, thừa kế.
Nguyên tắc xác định họ. Khoản 2 ưu tiên thỏa thuận cha mẹ: họ con theo họ cha đẻ hoặc mẹ đẻ. Không thỏa thuận thì theo tập quán. Chưa xác định cha đẻ thì theo họ mẹ đẻ. Trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi thì theo họ cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận; chỉ có cha hoặc mẹ nuôi thì theo họ người đó. Chưa được nhận làm con nuôi thì theo đề nghị người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng hoặc người tạm thời nuôi dưỡng. Ví dụ: con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chồng thỏa thuận con mang họ mẹ — hợp pháp theo khoản 2.
Nguyên tắc hạn chế đặt tên. Khoản 3 giới hạn: đặt tên xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp người khác hoặc trái nguyên tắc cơ bản pháp luật dân sự tại Điều 3. Tên công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác; không đặt tên bằng số, bằng ký tự không phải chữ. Ví dụ: đặt tên con gây nhầm lẫn, xúc phạm người khác — bị hạn chế.
Nguyên tắc sử dụng tên. Khoản 5: bí danh, bút danh không được gây thiệt hại quyền, lợi ích hợp pháp người khác. Điều 26 thể hiện cân bằng giữa tự do nhân thân và trật tự pháp lý, bảo vệ ổn định hộ tịch.
Cha mẹ không thỏa thuận họ con: xác định theo tập quán (Điều 26.2). Ví dụ: cha họ Nguyễn, mẹ họ Trần, không thống nhất, con mang họ theo tập quán địa phương.
Chưa xác định cha đẻ: họ con theo họ mẹ đẻ (Điều 26.2). Ví dụ: đơn thân sinh con, khai sinh theo họ mẹ.
Trẻ bị bỏ rơi, nhận nuôi: họ theo thỏa thuận cha mẹ nuôi; chỉ có một người nuôi thì theo họ người đó (Điều 26.2). Ví dụ: bà nhận nuôi trẻ bỏ rơi, trẻ mang họ bà.
Đặt tên bị hạn chế nếu xâm phạm quyền người khác hoặc trái nguyên tắc Điều 3; tên công dân bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc, không dùng số hoặc ký tự đơn không phải chữ (Điều 26.3). Ví dụ: từ chối tên bằng chữ số hoặc ký hiệu đặc biệt.
Lưu ý: sử dụng bí danh, bút danh không gây thiệt hại quyền người khác (Điều 26.5). Họ, tên là căn cứ xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 26.4).
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: