Điều 4. Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm 1. Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng. 2. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình. 3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm. Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018. Chương II HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 quy định trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, chia thành ba đối tượng chịu trách nhiệm. Khoản 1 gán cho Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác việc thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng. Khoản 2 yêu cầu cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân thủ pháp luật, tôn trọng quy tắc sống xã hội chủ nghĩa, kịp thời loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây tội phạm trong đơn vị. Khoản 3 quy định mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Ví dụ thực tiễn: Cơ quan Công an điều tra, Viện kiểm sát khởi tố, Tòa án xét xử theo chức năng riêng; trường học giáo dục học sinh tuân thủ pháp luật; công dân thông báo vi phạm pháp luật cho cơ quan có thẩm quyền.
Căn cứ: Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14, hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.
Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm gồm ba nội dung chính, phản ánh nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Điểm 1 quy định cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng. Đây là cơ sở pháp lý cho sự phối hợp liên ngành trong công tác an toàn xã hội. Ví dụ thực tiễn, Cục Cảnh sát PCCC cùng với UBND tỉnh tổ chức tuyên truyền chống thiên tai, giảm nguy cơ hinh sự do thiên tai gây ra.
Điểm 2 quy định cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình. Đây là trách nhiệm nội bộ giảm nguy cơ hình sự. Ví dụ, Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai chương trình giáo dục pháp luật tại trường học, xây dựng quy chế nội bộ chống tham nhũng trong doanh nghiệp.
Điểm 3 quy định mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm. Theo Điều 1, điểm b khoản 1 Luật số 12/2017/QH14, công dân có trách nhiệm thông báo sự kiện, hành vi vi phạm pháp luật; không giúp việc người khác khi phát hiện hành vi phạm tội; không bảo trợ người vi phạm pháp luật. Người dân tham gia vào phong trào "An ninh mạng" báo cáo hoạt động lạm dụng thông tin điện tử cho cơ quan chức năng là hình thực thực hiện trách nhiệm này.
Khái niệm. Điều 4 xác lập trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm — nghĩa vụ pháp lý của ba nhóm chủ thể: cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án), cơ quan/tổ chức, và công dân. Đây là nguyên tắc định hướng, không phải cấu thành tội phạm; không ai bị truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ vì vi phạm Điều 4.
Dấu hiệu pháp lý thứ nhất — chủ thể có chức năng tố tụng (khoản 1). Ba cơ quan thực hiện "đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn", đồng thời có nghĩa vụ kép: hướng dẫn, giúp đỡ cơ quan khác, tổ chức, cá nhân; giám sát, giáo dục người phạm tội tại cộng đồng. Ví dụ: Công an cấp xã hướng dẫn tổ dân phố quản lý người chấp hành án treo theo Điều 4 khoản 1, gắn với Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo.
Dấu hiệu thứ hai — chủ thể cơ quan, tổ chức (khoản 2). Hai nghĩa vụ: giáo dục người thuộc quyền quản lý nâng cao cảnh giác, tuân theo pháp luật; kịp thời loại trừ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm trong nội bộ. Đây là cơ sở pháp lý cho trách nhiệm của doanh nghiệp, trường học trong phòng ngừa tham nhũng, trộm cắp nội bộ.
Dấu hiệu thứ ba — nghĩa vụ công dân (khoản 3). "Tích cực tham gia phòng, chống tội phạm" — nghĩa vụ đạo đức – pháp lý, không chế tài hình sự trực tiếp. Khoản 3 được sửa đổi theo điểm b khoản 1 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14, hiệu lực từ 01/01/2018.
Tính chất. Điều 4 mang tính nguyên tắc, thể hiện chính sách hình sự chủ động phòng ngừa, kết hợp giáo dục – cải tạo – trừng trị, làm nền tảng triển khai các quy định cụ thể về trách nhiệm phòng ngừa trong Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự.
Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 liên hệ chặt chẽ với Điều 3 về cơ sở hình sự: việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm thực hiện nguyên tắc chỉ xử lý hành vi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, tránh mở rộng phạm vi can thiệp của Nhà nước.
Liên hệ với Điều 5 về nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, công dân: Điều 4 quy định trách nhiệm phòng ngừa, Điều 5 chi tiết nghĩa vụ thông báo, cung cấp bằng chứng và hỗ trợ cơ quan thẩm quyền khi có căn cứ tin có hành vi phạm tội.
Liên hệ với Điều 6 về xử lý vi phạm pháp luật bằng biện pháp khác không phải hình sự: cơ quan có thẩm quyền ưu tiên biện pháp xử lý hành chính hoặc biện pháp khắc phục khác khi đủ điều kiện, chỉ khởi tố vụ án khi cần thiết để bảo vệ an toàn xã hội.
Ví dụ thực tế: Cơ quan Công an theo Điều 4 điều tra, Viện kiểm sát theo Điều 51 can thiệp điều tra, Tòa án theo Điều 307 xử án. Công dân theo khoản 3 Điều 4 phải thông báo về hành vi phạm tội, tương ứng nghĩa vụ theo Điều 5.
Tổng quan: Điều 4 là khung tổ chức thực hiện, các điều sau đây quy định thủ tục và hình thức xử lý cụ thể, tạo hệ thống liên kết từ phòng ngừa đến xử lý vi phạm pháp luật.
Thực tiễn áp dụng và lưu ý
Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là quy định mang tính nguyên tắc, xác lập trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, không phải căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Thực tiễn áp dụng cho thấy quy định này chủ yếu phát huy hiệu lực qua cơ chế phối hợp liên ngành và phân công trách nhiệm, chứ không tạo ra tội danh hay hình phạt riêng.
Khoản 1 Điều 4 đặt trách nhiệm lên Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác. Trong thực tiễn, sự phối hợp này thể hiện ở việc Công an chủ trì điều tra, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, Tòa án xét xử, đồng thời các cơ quan cùng hướng dẫn, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân phòng ngừa tội phạm và giám sát, giáo dục người phạm tội tại cộng đồng. Ví dụ, tại địa bàn có tội phạm trộm cắp tài sản gia tăng, cơ quan Công an phối hợp chính quyền cơ sở tuyên truyền, tuần tra, đồng thời hướng dẫn người dân biện pháp bảo vệ tài sản — đây là biểu hiện trực tiếp của khoản 1.
Khoản 2 Điều 4 mở rộng trách nhiệm sang cơ quan, tổ chức. Nội dung giáo dục nâng cao cảnh giác, ý thức tuân theo pháp luật và kịp thời loại trừ nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt: tổ chức tín dụng thiếu kiểm soát nội bộ tạo điều kiện cho hành vi lừa đảo; doanh nghiệp không quản lý chặt tài sản dễ phát sinh tội phạm chiếm đoạt; cơ sở giáo dục không giáo dục pháp luật đầy đủ làm gia tăng nguy cơ vi phạm ở người chưa thành niên.
Khoản 3 Điều 4 ghi nhận nghĩa vụ của mọi công dân tích cực tham gia phòng, chống tội phạm, thể hiện qua tố giác, cung cấp thông tin, phối hợp cơ quan chức năng.
Cần lưu ý: Điều 4 không quy định chế tài hình sự độc lập; hành vi vi phạm nghĩa vụ phòng, chống tội phạm chỉ bị xử lý khi có quy định cụ thể của pháp luật. Khoản 1 Điều 4 đã được sửa đổi, bổ sung theo điểm b khoản 1 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018; khi viện dẫn cần bảo đảm áp dụng đúng văn bản hợp nhất và thời điểm có hiệu lực.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: