Bình luận Điều 15 Bộ luật Lao động 2019: Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
Điều 15. Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động 1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. 2. Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
1. Khái quát Điều 15 Bộ luật Lao động 2019
Vị trí và bố cục. Điều 15 Bộ luật Lao động 2019 quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động, gồm hai khoản: khoản 1 xác lập các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực; khoản 2 ghi nhận quyền tự do giao kết nhưng giới hạn bởi pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội. Điều luật mang tính định hướng, là chuẩn mực xuyên suốt quá trình giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động.
Ý nghĩa. Điều 15 thể hiện bản chất quan hệ lao động vừa bình đẳng về pháp lý vừa phụ thuộc về kinh tế. Nguyên tắc tự nguyện bảo đảm người lao động và người sử dụng lao động không bị ép buộc, lừa dối khi xác lập quan hệ. Nguyên tắc thiện chí, trung thực đòi hỏi các bên cung cấp thông tin đầy đủ, không gian dối về trình độ, sức khỏe, công việc. Giới hạn "không trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội" ngăn ngừa việc lạm dụng tự do hợp đồng để xâm hại quyền lợi chính đáng.
Liên hệ thực tiễn. Hợp đồng lao động ghi mức lương thấp hơn mức tối thiểu vùng theo Nghị định của Chính phủ vi phạm khoản 2 Điều 15, đồng thời trái quy định về tiền lương tối thiểu. Tương tự, điều khoản buộc người lao động cam kết không mang thai trong thời gian làm việc xâm phạm quyền bình đẳng giới, trái pháp luật và đạo đức xã hội. Ngược lại, thỏa thuận về thời giờ làm việc linh hoạt phù hợp thỏa ước lao động tập thể được coi là hợp pháp.
Hệ quả pháp lý. Hợp đồng lao động vi phạm nguyên tắc tại Điều 15 có thể bị tuyên bố vô hiệu từng phần hoặc toàn bộ theo Điều 49 Bộ luật Lao động 2019; các bên phải sửa đổi cho phù hợp hoặc xử lý theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu. Điều 15 vì thế không chỉ là tuyên ngôn nguyên tắc mà còn là căn cứ đánh giá tính hợp pháp của thỏa thuận lao động.
2. Nội dung điều luật và các quy định liên quan
Nội dung Điều 15. Điều 15 Bộ luật Lao động 2019 quy định hai nhóm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động. Khoản 1 xác lập các nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. Khoản 2 xác lập nguyên tắc tự do giao kết nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Phân tích khoản 1. Tự nguyện đòi hỏi ý chí các bên xuất phát từ chính họ, không bị ép buộc, lừa dối, đe dọa. Bình đẳng thể hiện ở tư cách chủ thể khi giao kết, dù người lao động ở vị thế yếu hơn về kinh tế. Thiện chí, hợp tác và trung thực yêu cầu các bên cung cấp thông tin đúng, không gian dối về công việc, trình độ, điều kiện lao động. Các nguyên tắc này là cơ sở đánh giá hiệu lực hợp đồng và xử lý tranh chấp.
Phân tích khoản 2. Tự do giao kết là quyền của các bên trong việc lựa chọn đối tác, nội dung, thời hạn hợp đồng. Giới hạn của quyền này là pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội. Ví dụ, thỏa thuận loại trừ quyền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trái pháp luật; thỏa thuận trả lương thấp hơn mức tối thiểu vùng trái quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động 2019; thỏa thuận điều kiện lao động thấp hơn chuẩn của thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng trái khoản 2 Điều 79.
Quy định liên quan. Hình thức hợp đồng theo Điều 14; nội dung hợp đồng theo Điều 21; giao kết hợp đồng với người chưa thành niên theo Điều 145; nghĩa vụ cung cấp thông tin theo Điều 16. Hợp đồng vi phạm nguyên tắc tại Điều 15 có thể bị tuyên vô hiệu từng phần hoặc toàn bộ theo Điều 49, và các bên phải xử lý hậu quả theo Điều 51.
3. Phân tích các khái niệm, quyền và nghĩa vụ pháp lý
1. Khái niệm "tự nguyện" và "bình đẳng". Tự nguyện là sự thống nhất ý chí của hai bên, không bị ép buộc, lừa dối, đe dọa. Bình đẳng là sự ngang quyền trong thương lượng, không bên nào áp đặt. Trên thực tế, nhiều tranh chấp phát sinh do người sử dụng lao động buộc người lao động ký hợp đồng với điều khoản bất lợi (ví dụ: cam kết không mang thai trong 3 năm). Hợp đồng đó vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và có thể bị tuyên vô hiệu từng phần theo Điều 49 Bộ luật Lao động 2019.
2. Thiện chí, hợp tác, trung thực. Đây là chuẩn mực đạo đức được pháp điển hóa. Người lao động phải khai báo trung thực về trình độ, kinh nghiệm; người sử dụng lao động phải cung cấp trung thực về công việc, điều kiện làm việc. Hành vi cung cấp thông tin sai sự thật (ví dụ: giả bằng cấp, che giấu mức lương thực tế) là căn cứ để bên kia đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Điều 36 và Điều 37 Bộ luật Lao động 2019.
3. Tự do giao kết và giới hạn pháp lý. Khoản 2 Điều 15 ghi nhận quyền tự do giao kết nhưng đặt ra ba giới hạn: không trái pháp luật, không trái thỏa ước lao động tập thể, không trái đạo đức xã hội. Ví dụ: thỏa thuận trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng là trái pháp luật; thỏa thuận loại bỏ quyền tham gia bảo hiểm xã hội là vô hiệu. Giới hạn này bảo đảm tự do không bị lạm dụng để xâm phạm quyền của bên yếu thế.
4. Quyền và nghĩa vụ pháp lý. Từ nguyên tắc tại Điều 15, các bên phát sinh nghĩa vụ: giao kết trên cơ sở thông tin trung thực, thực hiện đúng cam kết, không đơn phương thay đổi điều khoản trái quy định. Đồng thời có quyền yêu cầu bên kia tuân thủ, quyền đơn phương chấm dứt khi bên kia vi phạm nguyên tắc giao kết. Vi phạm nguyên tắc tại Điều 15 là căn cứ xử lý theo Điều 49 về hợp đồng lao động vô hiệu.
4. Mối liên hệ với các điều luật khác
Liên hệ Bộ luật Dân sự 2015. Điều 15 kế thừa nguyên tắc tự do, tự nguyện, thiện chí, trung thực của Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015. Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định điều kiện hiệu lực giao dịch dân sự: chủ thể có năng lực, tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng lao động là một loại giao dịch dân sự đặc thù, nên khi Bộ luật Lao động 2019 không quy định thì áp dụng Bộ luật Dân sự theo Điều 4 Bộ luật Lao động 2019.
Liên hệ Điều 16, Điều 17 Bộ luật Lao động 2019. Điều 15 là nguyên tắc gốc; Điều 16 (nghĩa vụ cung cấp thông tin) và Điều 17 (hành vi bị nghiêm cấm khi giao kết) cụ thể hóa nguyên tắc trung thực, thiện chí. Ví dụ: người sử dụng lao động giữ giấy tờ tùy thân của người lao động vi phạm khoản 1 Điều 17, đồng thời trái nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng tại khoản 1 Điều 15.
Liên hệ Điều 49 Bộ luật Lao động 2019. Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần hoặc toàn bộ khi nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (khoản 1 Điều 49) — chính là hệ quả pháp lý của việc vi phạm khoản 2 Điều 15. Ví dụ: thỏa thuận "không được mang thai trong 2 năm" vi phạm khoản 3 Điều 17 và trái đạo đức xã hội, hợp đồng vô hiệu theo Điều 49.
Liên hệ thỏa ước lao động tập thể. Khoản 2 Điều 15 buộc hợp đồng lao động không trái thỏa ước tập thể. Khi xung đột, áp dụng thỏa ước theo khoản 2 Điều 79 Bộ luật Lao động 2019; nội dung hợp đồng trái thỏa ước phải sửa đổi cho phù hợp.
Liên hệ Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tranh chấp về giao kết hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền tòa án theo Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; tòa án xem xét hợp đồng có tuân thủ Điều 15 hay không để tuyên vô hiệu.
5. Thực tiễn áp dụng và lưu ý
Thực tiễn áp dụng
Điều 15 Bộ luật Lao động 2019 đặt nền tảng cho toàn bộ quan hệ hợp đồng lao động. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực (khoản 1) và tự do giao kết trong giới hạn pháp luật, thỏa ước lao động tập thể, đạo đức xã hội (khoản 2) thường được viện dẫn để xử lý tranh chấp về hiệu lực hợp đồng.
Thực tiễn nổi bật ở tình trạng người sử dụng lao động buộc người lao động ký hợp đồng với điều khoản bất lợi, hoặc ký hợp đồng nhưng không giao bản cho người lao động. Hành vi này vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực và bình đẳng tại khoản 1 Điều 15, đồng thời vi phạm nghĩa vụ giao bản hợp đồng theo Điều 16 Bộ luật Lao động 2019. Hệ quả: người lao động có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu từng phần theo Điều 50 Bộ luật Lao động 2019 nếu điều khoản vi phạm pháp luật.
Ví dụ khác: thỏa thuận yêu cầu người lao động cam kết không mang thai trong thời hạn hợp đồng. Điều khoản này trái nguyên tắc bình đẳng, trái pháp luật về bình đẳng giới và quyền sinh sản, nên vô hiệu theo khoản 2 Điều 15 và Điều 49 Bộ luật Lao động 2019.
Lưu ý
- Doanh nghiệp cần rà soát mẫu hợp đồng, loại bỏ điều khoản hạn chế quyền hợp pháp của người lao động.
- Bảo đảm giao bản hợp đồng cho người lao động theo Điều 16; lưu giữ chứng cứ về quá trình thương lượng để chứng minh tính tự nguyện.
- Người lao động bị ép ký cần thu thập chứng cứ (tin nhắn, ghi âm, nhân chứng) để yêu cầu xử lý theo Điều 49, Điều 50 Bộ luật Lao động 2019.
- Thỏa ước lao động tập thể đã có hiệu lực là giới hạn của tự do giao kết; điều khoản hợp đồng thấp hơn thỏa ước phải sửa đổi tương ứng.
Lưu ý khi áp dụng
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
- Bộ luật Lao động 2019 - Điều 15