Bình luận Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Ủy thác thu thập chứng cứ | Công ty Luật Minh Bạch

Bình luận Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: Ủy thác thu thập chứng cứ

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10

Điều 105. Ủy thác thu thập chứng cứ 1. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự. 2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ. 3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác. 4. Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này. 5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 105 BLTTDS 2015

Nội dung Điều 105 BLTTDS 2015

Điều 105 quy định năm nội dung về ủy thác thu thập chứng cứ:

  • Khoản 1 – Phạm vi ủy thác: Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh tình tiết vụ việc.
  • Khoản 2 – Nội dung quyết định ủy thác: Phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ.
  • Khoản 3 – Trách nhiệm và thời hạn: Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc được ủy thác trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận quyết định và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
  • Khoản 4 – Ủy thác ra nước ngoài: Trường hợp thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này.
  • Khoản 5 – Hệ quả không thực hiện được: Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo khoản 3 và khoản 4 hoặc đã thực hiện nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự.

Phân tích và ví dụ thực tiễn: Điều 105 tạo cơ chế phối hợp giữa các Tòa án, khắc phục hạn chế về phạm vi lãnh thổ trong hoạt động thu thập chứng cứ. Chẳng hạn, Tòa án nhân dân quận X (Hà Nội) thụ lý vụ tranh chấp hợp đồng vay, nhưng người làm chứng cư trú tại tỉnh Y. Tòa án quận X ra quyết định ủy thác theo khoản 1, ghi rõ nội dung theo khoản 2; Tòa án nhân dân huyện Z (tỉnh Y) phải lấy lời khai trong thời hạn 01 tháng và thông báo kết quả theo khoản 3. Nếu người làm chứng ở nước ngoài, Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo khoản 4. Khi việc ủy thác không thành hoặc không có kết quả trả lời, Tòa án vẫn giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có theo khoản 5, bảo đảm vụ án không bị kéo dài vô hạn. Quy định này thể hiện sự cân bằng giữa yêu cầu thu thập đầy đủ chứng cứ và yêu cầu giải quyết vụ án đúng thời hạn luật định.

2. Phân tích quy định pháp luật

Phân tích quy định pháp luật

Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định ủy thác thu thập chứng cứ. Khoản 1 xác lập quyền chủ động của Tòa án: trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác. Đây là quyền tùy nghi, không bắt buộc, xuất phát từ nguyên tắc Tòa án tự mình thu thập chứng cứ theo Điều 97.

Khoản 2 đặt yêu cầu hình thức: quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và công việc cụ thể ủy thác. Thiếu nội dung này, quyết định khó thực thi, dễ phát sinh tranh cãi về phạm vi ủy thác.

Khoản 3 ấn định thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận quyết định ủy thác. Tòa án nhận ủy thác phải thông báo kết quả bằng văn bản; nếu không thực hiện được phải nêu rõ lý do. Đây là nghĩa vụ pháp lý, không phải quan hệ hành chính.

Khoản 4 xử lý yếu tố nước ngoài: ủy thác qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan nước ngoài mà Việt Nam cùng là thành viên điều ước quốc tế. Ví dụ, ủy thác thu thập chứng cứ tại quốc gia thành viên Công ước La Hay 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài.

Khoản 5 là quy định "van an toàn": không thực hiện được ủy thác hoặc không nhận được kết quả trả lời, Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có. Quy định này bảo đảm vụ án không bị treo vô hạn.

Thực tiễn: tranh chấp đất đai, Tòa án cấp huyện ủy thác Tòa án nơi có thửa đất thẩm định tại chỗ. Nếu Tòa án nhận ủy thác quá hạn 01 tháng mà không thông báo lý do, Tòa án ủy thác vẫn có thể tiếp tục giải quyết theo khoản 5, nhưng cần ghi nhận việc này trong hồ sơ để tránh khiếu nại về tính khách quan của chứng cứ.

3. Thực tiễn áp dụng và lưu ý

Thực tiễn áp dụng Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho thấy ủy thác thu thập chứng cứ phát huy hiệu quả khi đương sự, người làm chứng hoặc tài sản cần thẩm định nằm ngoài phạm vi thẩm quyền lãnh thổ của Tòa án đang giải quyết. Ví dụ: Tòa án nhân dân quận A thụ lý tranh chấp hợp đồng vay, nhưng người làm chứng cư trú tại tỉnh B và tài sản thế chấp tọa lạc tại tỉnh C. Tòa án quận A ra quyết định ủy thác theo khoản 1 Điều 105, ghi rõ tên, địa chỉ nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và công việc cụ thể theo khoản 2; Tòa án tỉnh B, C thực hiện trong thời hạn 01 tháng và thông báo kết quả bằng văn bản theo khoản 3.

Lưu ý thứ nhất về nội dung quyết định ủy thác: phải xác định đúng và đủ công việc ủy thác (lấy lời khai, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc biện pháp khác). Quyết định chung chung, thiếu địa chỉ đương sự thường dẫn đến việc Tòa án nhận ủy thác không thực hiện được và phải thông báo lý do theo khoản 3, kéo dài thời gian giải quyết.

Lưu ý thứ hai về thời hạn: mốc 01 tháng tính từ ngày nhận quyết định ủy thác. Cần kiểm soát tiến độ, tránh để hết thời hạn mới thông báo không thực hiện được.

Lưu ý thứ ba về ủy thác ra nước ngoài: khoản 4 yêu cầu thực hiện thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền nước ngoài mà Việt Nam cùng là thành viên điều ước quốc tế. Thủ tục này phức tạp, thời gian dài, cần lập kế hoạch sớm.

Lưu ý thứ tư về hệ quả không có kết quả: theo khoản 5, khi không thực hiện được hoặc đã ủy thác nhưng không nhận được trả lời, Tòa án giải quyết trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ. Đương sự cần chủ động cung cấp chứng cứ, không ỷ lại vào ủy thác; Tòa án phải ghi nhận đầy đủ vào biên bản, hồ sơ để bảo đảm tính hợp pháp của bản án khi bị kháng cáo, kháng nghị.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 - Điều 105
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp