Điều 104. Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản 1. Đương sự có quyền cung cấp giá tài sản đang tranh chấp; thỏa thuận về giá tài sản đang tranh chấp. 2. Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án. Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản. 3. Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; b) Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản; c) Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá. 4. Trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định giá, định giá tài sản: a) Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại Điều 52 của Bộ luật này không được tham gia Hội đồng định giá. Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đ
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Căn cứ pháp lý: Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 — Điều 104 (Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản); Điều 1, Điều 2 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
1. Vị trí, vai trò. Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định hai hoạt động có tính kế tiếp nhau trong quá trình xác định giá trị tài sản: định giá tài sản và thẩm định giá tài sản. Giá trị tài sản là căn cứ để Tòa án giải quyết nhiều vấn đề như chia tài sản, xác định nghĩa vụ tài chính, xử lý vật chứng, tài sản bảo đảm. Vì vậy hoạt động này trực tiếp phục vụ nhiệm vụ của Bộ luật đặt ra tại Điều 1: bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự “nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật”, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Phạm vi áp dụng. Theo khoản 1 Điều 2 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Bộ luật được áp dụng đối với mọi hoạt động tố tụng dân sự trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Do đó trình tự định giá, thẩm định giá theo Điều 104 được thực hiện thống nhất tại mọi Tòa án, không phân biệt địa bàn. Khoản 3 Điều 2 còn xác lập thứ tự ưu tiên: vụ việc có yếu tố nước ngoài thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nếu điều ước có quy định khác.
3. Ví dụ thực tiễn. Vợ chồng ly hôn, tranh chấp một căn hộ. Nguyên đơn khai giá 5 tỷ đồng, bị đơn khai 3,5 tỷ đồng, hai bên không thỏa thuận được. Tòa án không thể chia tài sản bằng hiện vật hoặc buộc thanh toán chênh lệch nếu chưa có căn cứ về giá trị. Định giá tài sản theo Điều 104 tạo căn cứ đó; trường hợp phức tạp (bất động sản, máy móc, cổ phần chưa niêm yết) cần thẩm định giá. Kết quả định giá là chứng cứ để Hội đồng xét xử quyết định.
Phân tích quy định pháp luật
Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 điều chỉnh hai phương thức xác định giá tài sản trong tố tụng dân sự: định giá tài sản và thẩm định giá tài sản. Theo điều luật, Tòa án quyết định việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản — tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự. Định giá tài sản do Hội đồng định giá tài sản thực hiện; thẩm định giá tài sản do tổ chức thẩm định giá thực hiện. Các đương sự được tham dự, trình bày ý kiến; kết quả định giá, thẩm định giá được ghi nhận bằng biên bản và sử dụng làm chứng cứ.
Điều luật đặt trong Chương VII — Biện pháp thu thập chứng cứ, thể hiện nguyên tắc Tòa án chủ động xác minh tình tiết khách quan của vụ án theo nhiệm vụ tại Điều 1 Bộ luật: giải quyết vụ việc dân sự “nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật”. Giá tài sản là tình tiết khách quan, không phụ thuộc ý chí đương sự, nên pháp luật trao cho Tòa án quyền quyết định thay vì buộc các bên tự thỏa thuận.
Hai phương thức có phạm vi áp dụng khác nhau. Định giá tài sản phù hợp tài sản phổ thông, có thị trường tham chiếu (nhà ở, đất, xe). Thẩm định giá tài sản phù hợp tài sản đặc thù, cần chuyên môn sâu (máy móc, dây chuyền, cổ phần, quyền tài sản).
Ví dụ thực tiễn: vợ chồng ly hôn, tranh chấp căn nhà. Nguyên đơn khai giá 5 tỷ, bị đơn khai 3 tỷ, không thỏa thuận được. Tòa án ra quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản theo Điều 104; kết quả định giá là căn cứ chia tài sản chung, tính án phí và nghĩa vụ thanh toán chênh lệch. Nếu tài sản là phần vốn góp trong doanh nghiệp, Tòa án chọn tổ chức thẩm định giá.
Hệ quả pháp lý: đương sự không hợp tác, không cung cấp thông tin phục vụ định giá phải chịu bất lợi về chứng cứ; Tòa án vẫn có thể định giá để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 104.
Thực tiễn giải quyết vụ án dân sự cho thấy tranh chấp về giá tài sản chiếm tỷ lệ lớn trong các vụ chia tài sản chung, bồi thường thiệt hại, tranh chấp hợp đồng. Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 điều chỉnh hai phương thức song hành: Tòa án quyết định định giá tài sản và sử dụng kết quả thẩm định giá tài sản.
Ví dụ thực tiễn. Vợ chồng ly hôn, tranh chấp căn nhà. Nguyên đơn khai giá 3 tỷ, bị đơn khai 6 tỷ. Các bên không thỏa thuận được giá. Tòa án căn cứ Điều 104 ra quyết định định giá, thành lập Hội đồng định giá; hoặc trường hợp tài sản phức tạp, Tòa án yêu cầu thẩm định giá. Kết quả định giá là nguồn chứng cứ để Tòa án đánh giá khách quan, tránh áp đặt giá theo ý chí một bên.
Lưu ý thứ nhất: ưu tiên thỏa thuận giá. Đương sự tự thống nhất giá thì không cần định giá, rút ngắn thời gian, giảm chi phí tố tụng.
Lưu ý thứ hai: thời điểm định giá. Giá thị trường biến động mạnh (nhà đất, xe, hàng hóa). Cần xác định thời điểm định giá phù hợp với thời điểm phát sinh tranh chấp để bảo đảm công bằng.
Lưu ý thứ ba: chi phí thẩm định giá. Đương sự phải tạm ứng chi phí; không tạm ứng thì Tòa án không thể thực hiện. Đây là rủi ro thực tế khiến nhiều vụ án kéo dài.
Lưu ý thứ tư: kết quả định giá không tự động ràng buộc Tòa án. Tòa án đánh giá cùng các chứng cứ khác; đương sự có quyền phản đối, yêu cầu định giá lại nếu có căn cứ.
Lưu ý thứ năm: chỉ định giá khi thực sự cần thiết. Tài sản các bên đã thống nhất giá trị hoặc giá trị không ảnh hưởng kết quả giải quyết thì không định giá, tránh lãng phí.
Điều 104 được áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ theo khoản 1 Điều 2 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bảo đảm mục tiêu giải quyết vụ việc nhanh chóng, chính xác, công minh theo Điều 1.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: