Bình luận Điều 35 Luật SHTT: Hành vi xâm phạm quyền liên quan
Điều 35. Hành vi xâm phạm quyền liên quan81 1. Xâm phạm quyền của người biểu diễn quy định tại Điều 29 của Luật này. 2. Xâm phạm quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình quy định tại Điều 30 của Luật này. 3. Xâm phạm quyền của tổ chức phát sóng quy định tại Điều 31 của Luật này. Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026. Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. 4. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại Điều 32 và Điều 33 của Luật này. 5. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều này và Điều 28 của Luật này. 6. Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền liên quan. 7. Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, t
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
1. Nội dung Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ
Nội dung Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ
Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026) quy định về hành vi xâm phạm quyền liên quan. Về cơ bản, điều luật xác định các nhóm hành vi bị coi là xâm phạm quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng, gồm: (i) chiếm đoạt quyền tác giả đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; (ii) tự ý sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự, uy tín của người biểu diễn; (iii) sao chép, phân phối, nhập khẩu, khai thác bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của chủ thể quyền; (iv) các hành vi khác theo quy định của Chính phủ. Điều 35 cần được đọc cùng Điều 28 (hành vi xâm phạm quyền tác giả), Điều 29 (các hành vi bị nghiêm cấm) và Điều 198 (biện pháp xử lý xâm phạm), đồng thời đối chiếu với Điều 17 về quyền liên quan và Điều 25 về các trường hợp sử dụng không phải xin phép.
Ví dụ thực tiễn: một cơ sở kinh doanh cà phê tự ý phát lại bản ghi âm ca khúc của ca sĩ mà không xin phép nhà sản xuất bản ghi, không trả thù lao; hoặc một website đăng tải bản ghi hình buổi biểu diễn đã cắt ghép, xuyên tạc hình ảnh nghệ sĩ gây ảnh hưởng uy tín. Các hành vi này có thể bị coi là xâm phạm quyền liên quan theo Điều 35 và chủ thể quyền có thể yêu cầu xử lý theo Điều 198, Điều 199 (giám định) và Điều 211 (khởi kiện).
Điểm đáng lưu ý là Điều 35 không liệt kê đóng mà mở rộng cho Chính phủ quy định chi tiết, tạo cơ sở linh hoạt thích ứng với công nghệ số (streaming, mạng xã hội). Khi đánh giá hành vi xâm phạm, cần xác định: chủ thể có quyền liên quan hay không, hành vi có thuộc trường hợp loại trừ theo Điều 25, 32 hay không, và yếu tố gây phương hại đến danh dự, uy tín của người biểu diễn.
2. Phân tích các khái niệm và điều kiện pháp lý
Phân tích các khái niệm và điều kiện pháp lý
Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026) quy định về hành vi xâm phạm quyền liên quan. Về khái niệm, quyền liên quan là quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng của mình (khoản 3 Điều 4). Theo đó, hành vi xâm phạm quyền liên quan là việc sử dụng đối tượng quyền liên quan mà không được phép của chủ thể quyền, trừ các trường hợp ngoại lệ luật định. Điều 35 liệt kê các nhóm hành vi: chiếm đoạt quyền tác giả đối với cuộc biểu diễn; sao chép, phân phối, truyền đạt trái phép bản ghi âm, ghi hình; phát sóng, tái phát sóng trái phép; và các hành vi gian lận nhằm trục lợi từ đối tượng được bảo hộ.
Về điều kiện pháp lý, việc xác định hành vi xâm phạm cần hội đủ: (i) đối tượng được bảo hộ còn trong thời hạn bảo hộ (Điều 34); (ii) hành vi thuộc một trong các trường hợp Điều 35 liệt kê; (iii) không thuộc ngoại lệ tại Điều 32 (sao chép tạm thời, mục đích giảng dạy, nghiên cứu phi thương mại…). Ví dụ thực tiễn: một quán cà phê phát lại MV ca nhạc đã mua đĩa gốc nhưng không xin phép tổ chức phát sóng/nhà sản xuất có thể bị coi là tái phát sóng trái phép; ngược lại, trích dẫn ngắn để bình luận, giảng dạy không nhằm mục đích thương mại có thể được miễn trừ theo Điều 32. Việc phân định này đòi hỏi đối chiếu đồng thời Điều 32, 34 và 35 để bảo đảm cân bằng giữa bảo hộ chủ thể quyền và quyền tiếp cận thông tin của công chúng.
3. Thực tiễn áp dụng và lưu ý cho doanh nghiệp
Trong thực tiễn, các tranh chấp về quyền liên quan thường xảy ra ở ba nhóm tình huống: sử dụng bản ghi âm, ghi hình ca nhạc mà không xin phép ca sĩ, nhạc công; phát sóng lại chương trình truyền hình của đài khác; sử dụng bản ghi cuộc biểu diễn để quảng cáo. Ví dụ, một doanh nghiệp kinh doanh nhà hàng, quán cà phê phát nhạc nền từ các bản ghi âm thương mại mà không trả tiền bản quyền cho nhà sản xuất bản ghi — hành vi này có thể bị coi là xâm phạm quyền sao chép, quyền phân phối hoặc quyền truyền đạt đến công chúng đối với bản ghi âm, ghi hình. Luật SHTT hợp nhất 2026 (Điều 35) quy định các hành vi xâm phạm quyền liên quan bao gồm sao chép, phân phối bản ghi âm/g hi hình, phát sóng, truyền đạt không được phép, đồng thời là căn cứ để chủ thể quyền yêu cầu xử lý hành chính hoặc khởi kiện. Doanh nghiệp cần lưu ý: (i) khi sử dụng tác phẩm ghi âm, ghi hình phải xác định rõ chủ sở hữu quyền liên quan và xin phép bằng văn bản, kể cả khi bản ghi đã được mua hợp pháp; (ii) lưu giữ hợp đồng, hóa đơn, giấy phép để chứng minh tính hợp pháp; (iii) quy định nội bộ về việc kiểm tra bản quyền khi phát nhạc, video trong không gian kinh doanh; (iv) khi nhận thông báo vi phạm, nên rà soát ngay, gỡ bỏ và đàm phán thiện chí. Việc chủ động tuân thủ Điều 35 không chỉ giảm rủi ro bị xử phạt, bồi thường thiệt hại mà còn bảo vệ uy tín thương hiệu và tránh bị đối tác, khách hàng đánh giá thiếu chuyên nghiệp.
4. Kết luận và kiến nghị
Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022, 2025) là cơ sở pháp lý quan trọng xác định các hành vi xâm phạm quyền liên quan, bao gồm các hành vi sao chép, phân phối, phát sóng, truyền đạt bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của chủ thể quyền liên quan. So với các quy định trước đây, Điều 35 hiện hành đã có những bước tiến đáng kể trong việc mở rộng phạm vi bảo hộ, bổ sung các hành vi xâm phạm mới phù hợp với môi trường số, đồng thời tăng cường chế tài xử lý. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành vẫn còn nhiều thách thức. Ví dụ, việc sao chép bản ghi âm, ghi hình để đăng tải lên các nền tảng mạng xã hội nhằm mục đích thương mại nhưng không xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan vẫn diễn ra phổ biến, gây khó khăn cho công tác xử lý do ranh giới giữa hành vi xâm phạm và ngoại lệ hợp pháp chưa thực sự rõ ràng. Bên cạnh đó, các quy định về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian trong việc ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền liên quan còn thiếu tính cụ thể, dẫn đến tình trạng né tránh trách nhiệm. Từ những phân tích trên, bài viết kiến nghị: thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về tiêu chí xác định hành vi xâm phạm quyền liên quan trên môi trường số, làm rõ các trường hợp ngoại lệ được quy định tại Điều 35; thứ hai, tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, chủ thể quyền và các nền tảng trung gian trong việc phát hiện, xử lý hành vi xâm phạm; thứ ba, nâng cao mức xử phạt và bổ sung biện pháp kỹ thuật ngăn chặn kịp thời đối với các hành vi xâm phạm có tính chất hệ thống, xuyên biên giới. Những kiến nghị này góp phần bảo đảm hiệu quả thực thi Điều 35, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể quyền liên quan trong bối cảnh chuyển đổi số.
Lưu ý khi áp dụng
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
- Luật Sở hữu trí tuệ (văn bản hợp nhất 2026) - Điều 35